
Thương vụ Việt Nam tại New Zealand cho biết năm 2024, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của New Zealand với Việt Nam đạt 2,7 tỷ NZD (tương đương 1,8 tỷ USD) tăng 8,9% so với năm 2023 (đạt 2,46 tỷ NZD).
Trong đó, kim ngạch xuất khẩu từ Việt Nam sang New Zealand đạt 1,75 tỷ NZD, tăng 13,6% và xếp thứ 11 trong số các nước nhập khẩu chính vào New Zealand. Ngược lại, kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam từ thị trường New Zealand là 933 triệu NZD, giảm 0,6%.
Các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam vào New Zealand chiếm tỷ trọng cao là máy móc, hàng điện tử, dệt may; chiếm thị phần lớn là hàng thủy sản (tôm, cá ba sa…) và các loại hạt (điều, cà phê…).
Song qua tìm hiểu của Thương vụ, các mặt hàng của Việt Nam xuất khẩu vào New Zealand chủ yếu đến từ các doanh nghiệp FDI trong lĩnh vực dệt may, thiết bị điện tử.
Theo đánh giá của Bộ Công Thương, New Zealand tuy là thị trường nhỏ, nhưng doanh nghiệp Việt Nam khi đã tiếp cận được thị trường khó tính này, sẽ là cơ hội cho sự phát triển và hợp tác lâu dài vì văn hóa kinh doanh của người New Zealand là trung thành và tin tưởng các đối tác. Nền kinh tế New Zealand có độ mở cửa cao và hoạt động dựa trên các nguyên tắc thị trường tự do.
Mặc dù vậy, các doanh nghiệp Việt Nam dường như chưa quan tâm nhiều đến thị trường này do vị trí địa lý xa xôi, yêu cầu về kiểm soát hàng hóa nhập khẩu nghiêm ngặt, thị trường nhỏ với hơn 5 triệu dân... là thách thức không nhỏ đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam khi tiếp cận thị trường này.
Bên cạnh đó, với đơn hàng và số lượng ít, doanh nghiệp Việt có tình trạng ngại đầu tư cơ sở, thiết bị chỉ để phục vụ mục đích xuất khẩu hàng hóa vào thị trường New Zealand.
Trong khi đó, Việt Nam có nhiều mặt hàng có cơ hội xuất khẩu, hợp tác tại thị trường này. Đơn cử như mặt hàng gạo, New Zealand là nước có nền nông nghiệp phát triển. Khoảng 90-95% sản phẩm nông nghiệp của nước này được dành cho xuất khẩu. Nhưng New Zealand phần lớn lại phải nhập khẩu sản phẩm ngũ cốc từ Úc, Thái Lan và Ấn Độ.
Sản phẩm lâm nghiệp và gỗ đóng góp 1,3% GDP của New Zealand với khoảng 70% gỗ từ rừng trồng. Các loại gỗ New Zealand xuất khẩu bao gồm: gỗ tròn, bột gỗ, gỗ xẻ, gỗ ván, bột và giấy, các sản phẩm, đồ đạc làm từ gỗ, đồ thủ công mỹ nghệ.
Việt Nam chủ yếu nhập khẩu gỗ xẻ, gỗ ép và gỗ tròn từ New Zealand. Đây là một trong những thị trường đầu vào cho sản xuất các sản phẩm gỗ xuất khẩu của Việt Nam sang các thị trường khác.
Để thúc đẩy mặt hàng gạo xuất khẩu sang New Zealand, Thương vụ Việt Nam tại New Zealand cho rằng doanh nghiệp xuất khẩu gạo Việt Nam cần nghiên cứu kỹ thị trường tiêu thụ tại đây, trong đó có thói quen tiêu dùng (ví dụ: gạo được bán chủ yếu được đóng gói trong các túi nhỏ từ 2 – 10 kg, có thông tin chi tiết bằng tiếng Anh, Trung Quốc, Việt Nam, Thái Lan…bên ngoài bao bì).
Thuỷ sản Việt Nam cũng là mặt hàng có nhiều lợi thế. Mặc dù là nước có thế mạnh về xuất khẩu thủy hải sản với kim ngạch cao, nhưng New Zealand cũng nhập khẩu nhiều mặt hàng này từ các nước, trong đó có Việt Nam. Các loại thủy sản chủ lực Việt Nam xuất sang New Zealand bao gồm: tôm các loại, file cá đông lạnh, mực, bạch tuộc và cua.
Nhằm mở cửa thị trường cho hàng nông, thủy sản Việt Nam, tạo thuận lợi cho việc nhập khẩu nông, thủy sản vào New Zealand, Thương vụ Việt Nam tại New Zealand, cho rằng cần thúc đẩy hợp tác giữa Bộ Nông nghiệp và Môi trường của Việt Nam với Bộ các ngành công nghiệp cơ bản New Zealand (MPI) ngay từ giai đoạn thực hiện đánh giá rủi ro nhập khẩu (IRA) và xây dựng tiêu chuẩn y tế đối với hàng hóa nhập khẩu (IHS) cho nông, thủy sản từ Việt Nam.
Đồng thời, thúc đẩy MPI thực hiện IRA đối với quả vải, quả nhãn và hoa cắt cành của Việt Nam.
Các cơ quan Chính phủ, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cần tiếp tục khai thác những lĩnh vực hợp tác cụ thể mà phía New Zealand hiện đang cung cấp trong các dự án ODA và hỗ trợ kỹ thuật nâng cao năng lực bảo quản sau thu hoạch và xử lý sản phẩm trước khi xuất khẩu.
Như trong lĩnh vực trồng trọt, hiện nay Chính phủ New Zealand tiếp tục hỗ trợ Việt Nam dự án phát triển ngành chanh dây xuất khẩu nhằm tăng năng suất, lợi nhuận và thực hành nông nghiệp thông minh.
Về lĩnh vực chăn nuôi, Thương vụ kiến nghị Bộ Nông nghiệp và Môi trường tiếp tục trao đổi và ký kết thỏa thuận giữa Chính phủ hai nước trong lĩnh vực thú y dựa trên tiềm năng chăn nuôi, thú y và trao đổi buôn bán động vật và sản phẩm của động vật giữa hai nước.
Trong lĩnh vực thủy sản, cần yêu cầu phía New Zealand thường xuyên trao đổi và cung cấp thông tin cập nhật cho phía Việt Nam về các quy định, tiêu chuẩn liên quan đến chất lượng an toàn vệ sinh sản phẩm thủy sản xuất nhập khẩu giữa hai nước. Các kinh nghiệm xúc tiến thương mại, xây dựng thương hiệu, công nghệ bảo quản sau thu hoạch và chế biến sản phẩm thủy sản (thông qua thăm quan, khảo sát và trao đổi chuyên gia).
Đặc biệt, Thương vụ Việt Nam tại New Zealand cho rằng Việt Nam và New Zealand cùng tham gia các FTA ASEAN - Úc - New Zealand (AANZFTA), CPTPP và RCEP khiến cho rào cản thuế quan, phi thuế quan ngày càng thấp hoặc bị loại bỏ. Đây là lợi thế lớn giúp hàng hóa Việt Nam tăng cường khả năng cạnh tranh với hàng hóa từ các nước không có FTA với New Zealand. Do đó, chúng ta cần tận dụng lợi thế này để gia tăng thị phần tại New Zealand.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường đặt mục tiêu xuất khẩu sầu riêng năm 2026 ít nhất bằng mức 3,85 tỷ USD của năm 2025 và có thể đạt khoảng 4 tỷ USD, đồng thời tập trung đa dạng hóa thị trường, chuẩn hóa chất lượng, truy xuất nguồn gốc và nâng năng lực chế biến, logistics.
Sự phục hồi và tăng trưởng đồng đều ở các ngành bán lẻ, dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành đã góp phần thúc đẩy khu vực dịch vụ phát triển năng động...
Trong 8 tháng năm 2026, xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt gần 49,31 tỷ USD, tăng 7% so với cùng kỳ năm trước. Đáng chú ý, rau quả, chăn nuôi và thủy sản bứt phá mạnh mẽ. Kết quả này giúp toàn ngành duy trì đà tăng trưởng tích cực dù một số mặt hàng chủ lực sụt giảm...
Trước những diễn biến của thị trường thế giới, giá xăng trong nước đã được điều chỉnh tăng khá mạnh, từ 672 đồng/lít - 723 đồng/lít. Trái lại, các mặt hàng dầu giảm từ 341 - 499 đồng/lít/kg…
Do tác động từ biến động giá nhiên liệu thế giới, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 8 ghi nhận mức tăng 0,47% so với tháng trước. Tính chung 8 tháng năm 2026, chỉ số này đã tăng 4,45% so với cùng kỳ năm ngoái.
Để thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW, cũng trong ngày 28/7/2026 Bộ Chính trị đã ký ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết với 40 chỉ tiêu và 51 nhiệm vụ, giải pháp cụ thể.
Thông tin mới nhất từ Cục Thống kê cho thấy, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 8/2026 tăng 0,47% so với tháng trước, so với cùng kỳ năm trước tăng 4,89%. Nguyên nhân chủ yếu do giá xăng dầu trong nước điều chỉnh tăng theo giá nhiên liệu thế giới.