Ngày 28/11/2021 tại xã Na Ngoi, huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) và Ban Quản lý dự án Điện 1 triển khai thi công xây dựng công trình đường dây 220kV Nậm Mô (Lào) – Tương Dương (đoạn trên lãnh thổ Việt Nam).
Dự án công trình đường dây 220 kV Nậm Mô – Tương Dương là đường dây mạch kép từ biên giới Việt Nam – Lào đến trạm biến áp 220 kV Tương Dương. Đường dây có chiều dài 74,4 km với tổng mức đầu tư 588 tỷ đồng do EVN là chủ đầu tư, Ban Quản lý dự án Điện 1 là đơn vị được EVN giao Quản lý dự án và Tư vấn giám sát.
Đường dây có vai trò truyền tải điện năng nhập khẩu từ cụm Nhà máy thủy điện Nậm Mô (Lào) về Việt Nam nhằm thực hiện cam kết song phương về quan hệ hợp tác giữa Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam và CHDCND Lào trong lĩnh vực phát triển năng lượng.
Theo thỏa thuận đã được ký kết giữa hai Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Lào, đến năm 2025 Việt Nam sẽ nhập khẩu nguồn điện từ Lào khoảng 3.000 MW và đến năm 2030 lên tới 5.000 MW.
Đây là công trình truyền tải điện thứ 2 phục vụ nhập khẩu điện từ Lào về Việt Nam (sau đường dây 220kV Xekaman 1 – Pleiku 2). Công trình có ý nghĩa quan trọng trong việc góp phần đảm bảo cung cấp điện cho miền Bắc trong những năm tới.
Tuyến đường dây ở phía Việt Nam đi qua địa bàn các huyện Tương Dương và Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An. Công trình dự kiến sẽ được triển khai thi công trong 9 tháng và hoàn thành đưa vào vận hành trong tháng 8/2022, đồng bộ với cụm dự án Nhà máy thủy điện Nậm Mô (Lào).




Trong xu thế chuyển dịch năng lượng toàn cầu, điện gió ngoài khơi đang vượt khỏi phạm vi của một nguồn điện tái tạo để trở thành một ngành công nghiệp mới, kéo theo cả hệ sinh thái từ khảo sát biển, chế tạo kết cấu, cáp và thiết bị điện, cảng biển, tàu dịch vụ, logistics, tài chính, bảo hiểm, đến vận hành, bảo dưỡng và công nghệ số. Để biến những cánh đồng gió ngoài khơi thành động lực tăng trưởng mới, Việt Nam cần đồng thời giải quyết bài toán quy hoạch không gian và nâng cao hiệu quả sử dụng năng lực công nghiệp ngoài khơi.
Muốn trở thành một quốc gia biển mạnh, Việt Nam không chỉ cần khai thác tốt hơn các nguồn lực từ biển mà còn phải từng bước làm chủ năng lực thiết kế, chế tạo, vận hành và cung cấp công nghệ cho các hoạt động trên biển.
Trong nhiều thập niên đã qua, lợi thế của du lịch biển thường được đo bằng số lượng bãi tắm đẹp hay lượng khách đến mỗi năm. Trong xu thế du lịch ngày càng cạnh tranh, những lợi thế ấy chỉ là điều kiện ban đầu.
Trong tiến trình chuyển dịch năng lượng, dầu khí Việt Nam đang đứng trước một bước ngoặt lớn: giá trị của ngành không còn chỉ được đo bằng sản lượng dầu, khí khai thác được từ lòng biển, mà ngày càng nằm ở năng lực khảo sát, thiết kế, chế tạo, lắp đặt, vận hành, bảo dưỡng, logistics, quản trị an toàn và làm chủ các công trình ngoài khơi. Nếu được nhìn nhận như một nền tảng công nghiệp và công nghệ, những năng lực được tích lũy qua nhiều thập kỷ có thể trở thành bệ phóng để Việt Nam bước vào các chuỗi giá trị mới.
Việt Nam đang sở hữu nguồn lợi hải sản và tài nguyên sinh học biển phong phú, từ nguồn gen, vi sinh vật, rong biển, vi tảo đến lượng lớn thủy sản. Tuy nhiên, lợi thế về sinh khối mới chỉ là điểm khởi đầu. Giá trị lớn hơn nằm ở khả năng phát hiện các hợp chất có hoạt tính sinh học, giải mã cơ chế, phát triển sản phẩm, làm chủ công nghệ tinh chế, tạo tài sản trí tuệ và đưa kết quả nghiên cứu ra thị trường.
Mời quý độc giả đón đọc Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 42-2026 phát hành ngày 19/10/2025 với nhiều chuyên mục hấp dẫn...
Theo Tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên Hợp Quốc, xi măng đất sét nung (LC3) là vật liệu xây dựng mới và bền vững. Chi phí đầu tư thấp, thân thiện với môi trường và khí hậu hơn so với xi măng thông thường... việc phát triển, phổ biến xi măng hỗn hợp phù hợp với mục tiêu sản xuất và tiêu dùng bền vững mà Chính phủ đã đề ra.