
Trả lời phỏng vấn trước chuyến thăm cấp Nhà nước tới Vương quốc Đan Mạch, thăm chính thức Liên minh châu Âu (EU) và Vương quốc Bỉ của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng nhấn mạnh ý nghĩa quan trọng của chuyến thăm trong việc củng cố tin cậy chính trị, nâng tầm quan hệ và mở rộng không gian hợp tác với các đối tác châu Âu.
Theo Thứ trưởng, nhận lời mời của Nhà Vua Đan Mạch Frederik X và Hoàng hậu, Chủ tịch Hội đồng châu Âu António Costa và Thủ tướng Bỉ Bart De Wever, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cùng Phu nhân và đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam sẽ thăm cấp Nhà nước tới Đan Mạch, thăm chính thức EU và Bỉ từ ngày 19-24/10/2026.
Đây là chuyến thăm cấp Nhà nước đầu tiên tới Đan Mạch của một Tổng Bí thư và là chuyến thăm chính thức EU, Bỉ đầu tiên của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, diễn ra sau thành công của Đại hội XIV của Đảng và cuộc bầu cử Quốc hội khóa XVI.
Thứ trưởng Lê Thị Thu Hằng khẳng định chuyến thăm chuyển tải thông điệp mạnh mẽ về đường lối đối ngoại của Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới; đồng thời tạo cơ hội nâng tầm quan hệ với Đan Mạch, EU và Bỉ theo hướng thực chất, hiệu quả hơn.
Đánh giá về quan hệ Việt Nam - Đan Mạch, Thứ trưởng cho biết chuyến thăm diễn ra đúng dịp hai nước kỷ niệm 55 năm thiết lập quan hệ ngoại giao, trên nền tảng hợp tác vững chắc được xây dựng qua nhiều thập kỷ.
Quan hệ hai nước đã chuyển từ hỗ trợ phát triển sang hợp tác bình đẳng, cùng có lợi, với các khuôn khổ hợp tác về biến đổi khí hậu, năng lượng, môi trường, tăng trưởng xanh và Đối tác chiến lược xanh.
Đan Mạch hiện là một trong những nhà đầu tư hàng đầu của EU tại Việt Nam, nổi bật trong nhóm đối tác Bắc Âu về đầu tư chất lượng cao và phát triển xanh. Các dự án trong lĩnh vực cảng biển, vận tải biển, logistics và công nghiệp xanh cho thấy hiệu quả hợp tác giữa hai nước.
Theo Thứ trưởng, chuyến thăm là dịp để hai bên xác định những định hướng chiến lược, thúc đẩy quan hệ Việt Nam - Đan Mạch trở thành mô hình hợp tác tiêu biểu giữa Việt Nam với một đối tác Bắc Âu.
Đối với EU, Thứ trưởng Lê Thị Thu Hằng nhấn mạnh quan hệ hai bên đã phát triển sâu rộng sau hơn 35 năm thiết lập quan hệ ngoại giao. Đặc biệt, việc nâng cấp quan hệ lên Đối tác chiến lược toàn diện vào tháng 1/2026 đánh dấu bước phát triển quan trọng, đưa Việt Nam trở thành quốc gia ASEAN đầu tiên có khuôn khổ quan hệ cao nhất với EU.
Hợp tác kinh tế tiếp tục là điểm sáng. Sau sáu năm triển khai, Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA) đã phát huy hiệu quả tích cực. EU hiện là đối tác thương mại lớn thứ tư và nhà đầu tư lớn thứ sáu của Việt Nam; trong khi Việt Nam là đối tác thương mại lớn nhất của EU trong ASEAN.
Bên cạnh thương mại và đầu tư, hợp tác về khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi xanh, chuyển đổi số và kinh tế biển ngày càng được mở rộng.
Thứ trưởng nhận định chuyến thăm lần này sẽ góp phần làm sâu sắc các trụ cột hợp tác, đặc biệt trong thương mại, đầu tư, khoa học - công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực; qua đó thúc đẩy quan hệ Việt Nam - EU trở thành hình mẫu hợp tác trong khuôn khổ ASEAN - EU.
Với Bỉ, chuyến thăm diễn ra sau chuyến thăm cấp Nhà nước tới Việt Nam của Nhà Vua Philippe vào tháng 4/2025, trong bối cảnh quan hệ hai nước tiếp tục phát triển trên nền tảng hơn 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao và khuôn khổ Đối tác chiến lược về nông nghiệp được thiết lập năm 2018.
Theo Thứ trưởng Lê Thị Thu Hằng, quan hệ Việt Nam - Bỉ đã đạt nhiều kết quả tích cực trong kinh tế, thương mại, đầu tư, nông nghiệp, giáo dục và khoa học - công nghệ.
Với những thế mạnh bổ trợ lẫn nhau, hai nước còn nhiều dư địa thúc đẩy hợp tác trong các lĩnh vực Bỉ có ưu thế và Việt Nam đang ưu tiên, gồm khoa học - công nghệ, chip bán dẫn, năng lượng tái tạo, nông nghiệp xanh, đổi mới sáng tạo, logistics và cảng biển thông minh.
Thứ trưởng cũng đánh giá cao sự đồng hành của Bỉ trong việc khắc phục hậu quả chiến tranh tại Việt Nam, đặc biệt việc Hạ viện Bỉ thông qua Nghị quyết kêu gọi hỗ trợ nạn nhân chất độc da cam Việt Nam.
Nhìn tổng thể, Thứ trưởng Lê Thị Thu Hằng cho rằng các đối tác châu Âu có thế mạnh về công nghệ, kinh nghiệm quản trị và giải pháp phát triển bền vững; trong khi Việt Nam đang đẩy mạnh đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất và năng lực cạnh tranh.
Trên cơ sở đó, chuyến thăm được kỳ vọng tạo bước chuyển chiến lược, củng cố tin cậy chính trị ở cấp cao nhất, nâng tầm quan hệ hợp tác theo hướng hiệu quả, thực chất hơn.
Đồng thời, chuyến thăm sẽ mở ra những cơ hội hợp tác mới, góp phần nâng cao năng lực phát triển và tự chủ chiến lược của Việt Nam cũng như các đối tác, mang lại lợi ích thiết thực cho người dân, doanh nghiệp và đóng góp vào hòa bình, hợp tác, phát triển bền vững giữa hai khu vực.
Trong xu thế chuyển dịch năng lượng toàn cầu, điện gió ngoài khơi đang vượt khỏi phạm vi của một nguồn điện tái tạo để trở thành một ngành công nghiệp mới, kéo theo cả hệ sinh thái từ khảo sát biển, chế tạo kết cấu, cáp và thiết bị điện, cảng biển, tàu dịch vụ, logistics, tài chính, bảo hiểm, đến vận hành, bảo dưỡng và công nghệ số. Để biến những cánh đồng gió ngoài khơi thành động lực tăng trưởng mới, Việt Nam cần đồng thời giải quyết bài toán quy hoạch không gian và nâng cao hiệu quả sử dụng năng lực công nghiệp ngoài khơi.
Muốn trở thành một quốc gia biển mạnh, Việt Nam không chỉ cần khai thác tốt hơn các nguồn lực từ biển mà còn phải từng bước làm chủ năng lực thiết kế, chế tạo, vận hành và cung cấp công nghệ cho các hoạt động trên biển.
Trong nhiều thập niên đã qua, lợi thế của du lịch biển thường được đo bằng số lượng bãi tắm đẹp hay lượng khách đến mỗi năm. Trong xu thế du lịch ngày càng cạnh tranh, những lợi thế ấy chỉ là điều kiện ban đầu.
Trong tiến trình chuyển dịch năng lượng, dầu khí Việt Nam đang đứng trước một bước ngoặt lớn: giá trị của ngành không còn chỉ được đo bằng sản lượng dầu, khí khai thác được từ lòng biển, mà ngày càng nằm ở năng lực khảo sát, thiết kế, chế tạo, lắp đặt, vận hành, bảo dưỡng, logistics, quản trị an toàn và làm chủ các công trình ngoài khơi. Nếu được nhìn nhận như một nền tảng công nghiệp và công nghệ, những năng lực được tích lũy qua nhiều thập kỷ có thể trở thành bệ phóng để Việt Nam bước vào các chuỗi giá trị mới.
Việt Nam đang sở hữu nguồn lợi hải sản và tài nguyên sinh học biển phong phú, từ nguồn gen, vi sinh vật, rong biển, vi tảo đến lượng lớn thủy sản. Tuy nhiên, lợi thế về sinh khối mới chỉ là điểm khởi đầu. Giá trị lớn hơn nằm ở khả năng phát hiện các hợp chất có hoạt tính sinh học, giải mã cơ chế, phát triển sản phẩm, làm chủ công nghệ tinh chế, tạo tài sản trí tuệ và đưa kết quả nghiên cứu ra thị trường.
Việt Nam luôn cần vốn ngoại để mở xưởng, tạo việc làm, thúc đẩy xuất khẩu và kết nối toàn cầu. Bước sang năm 2026, khi vị thế kinh tế đã khác, thu hút FDI của Việt Nam đòi hỏi chuẩn mực khắt khe hơn: phải xanh, số hóa, công nghệ cao, có sức lan tỏa và giúp Việt Nam từng bước làm chủ, tiến tới sở hữu công nghệ gốc.
Theo Tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên Hợp Quốc, xi măng đất sét nung (LC3) là vật liệu xây dựng mới và bền vững. Chi phí đầu tư thấp, thân thiện với môi trường và khí hậu hơn so với xi măng thông thường... việc phát triển, phổ biến xi măng hỗn hợp phù hợp với mục tiêu sản xuất và tiêu dùng bền vững mà Chính phủ đã đề ra.