
Theo số liệu của Cục Thống kê Đà Nẵng, trong tháng 10/2021, kim ngạch xuất, nhập khẩu trên địa bàn thành phố đạt 247 triệu USD, đưa tổng kim ngạch xuất nhập khẩu sau 10 tháng năm 2021 lên 2,5 tỷ USD, tăng 12% so với cùng kỳ. Trong đó, xuất khẩu đạt 1,4 tỷ USD, tăng gần 12% so với cùng kỳ năm ngoái.
Trong thời gian gần 5 tháng dịch bệnh bùng phát, hoạt động sản xuất, lưu thông hàng hóa của Đà Nẵng cũng như trong cả nước gặp rất nhiều khó khăn nhưng nhiều doanh nghiệp đã cố gắng nỗ lực duy trì lực lượng lao động sản xuất “ba tại chỗ”, “một cung đường 2 điểm đến”, giữ đơn hàng… nhờ đó đã giúp các doanh nghiệp trên địa bàn Đà Nẵng không chỉ tránh được đứt gãy chuỗi cung ứng mà còn tạo được đà tăng trưởng khá.
Đáng chú ý, trong khi nhiều lĩnh vực kinh tế như công nghiệp sản xuất, gia công hàng hóa, may mặc, đặc biệt là ngành du lịch bị suy giảm mạnh do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19 thì lĩnh vực kinh doanh xuất, nhập khẩu trên địa bàn Đà Nẵng trong 10 tháng qua vẫn có mức tăng trưởng khá cao.
Điều đó chứng tỏ công tác đẩy mạnh xúc tiến thương mại, cải cách thủ tục hành chính, hải quan… đã giúp cho hoạt động xuất, nhập khẩu của thành phố thu được kết quả đáng khích lệ, tạo đà cho sự phát triển của các doanh nghiệp trong lĩnh vực xuất, nhập khẩu trong năm 2022 và những năm tiếp theo.
Trong xu thế chuyển dịch năng lượng toàn cầu, điện gió ngoài khơi đang vượt khỏi phạm vi của một nguồn điện tái tạo để trở thành một ngành công nghiệp mới, kéo theo cả hệ sinh thái từ khảo sát biển, chế tạo kết cấu, cáp và thiết bị điện, cảng biển, tàu dịch vụ, logistics, tài chính, bảo hiểm, đến vận hành, bảo dưỡng và công nghệ số. Để biến những cánh đồng gió ngoài khơi thành động lực tăng trưởng mới, Việt Nam cần đồng thời giải quyết bài toán quy hoạch không gian và nâng cao hiệu quả sử dụng năng lực công nghiệp ngoài khơi.
Muốn trở thành một quốc gia biển mạnh, Việt Nam không chỉ cần khai thác tốt hơn các nguồn lực từ biển mà còn phải từng bước làm chủ năng lực thiết kế, chế tạo, vận hành và cung cấp công nghệ cho các hoạt động trên biển.
Trong nhiều thập niên đã qua, lợi thế của du lịch biển thường được đo bằng số lượng bãi tắm đẹp hay lượng khách đến mỗi năm. Trong xu thế du lịch ngày càng cạnh tranh, những lợi thế ấy chỉ là điều kiện ban đầu.
Trong tiến trình chuyển dịch năng lượng, dầu khí Việt Nam đang đứng trước một bước ngoặt lớn: giá trị của ngành không còn chỉ được đo bằng sản lượng dầu, khí khai thác được từ lòng biển, mà ngày càng nằm ở năng lực khảo sát, thiết kế, chế tạo, lắp đặt, vận hành, bảo dưỡng, logistics, quản trị an toàn và làm chủ các công trình ngoài khơi. Nếu được nhìn nhận như một nền tảng công nghiệp và công nghệ, những năng lực được tích lũy qua nhiều thập kỷ có thể trở thành bệ phóng để Việt Nam bước vào các chuỗi giá trị mới.
Việt Nam đang sở hữu nguồn lợi hải sản và tài nguyên sinh học biển phong phú, từ nguồn gen, vi sinh vật, rong biển, vi tảo đến lượng lớn thủy sản. Tuy nhiên, lợi thế về sinh khối mới chỉ là điểm khởi đầu. Giá trị lớn hơn nằm ở khả năng phát hiện các hợp chất có hoạt tính sinh học, giải mã cơ chế, phát triển sản phẩm, làm chủ công nghệ tinh chế, tạo tài sản trí tuệ và đưa kết quả nghiên cứu ra thị trường.
Việt Nam luôn cần vốn ngoại để mở xưởng, tạo việc làm, thúc đẩy xuất khẩu và kết nối toàn cầu. Bước sang năm 2026, khi vị thế kinh tế đã khác, thu hút FDI của Việt Nam đòi hỏi chuẩn mực khắt khe hơn: phải xanh, số hóa, công nghệ cao, có sức lan tỏa và giúp Việt Nam từng bước làm chủ, tiến tới sở hữu công nghệ gốc.
Theo Tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên Hợp Quốc, xi măng đất sét nung (LC3) là vật liệu xây dựng mới và bền vững. Chi phí đầu tư thấp, thân thiện với môi trường và khí hậu hơn so với xi măng thông thường... việc phát triển, phổ biến xi măng hỗn hợp phù hợp với mục tiêu sản xuất và tiêu dùng bền vững mà Chính phủ đã đề ra.