Cơ cấu hiểu một cách toàn diện bao gồm nhiều loại (như cơ cấu ngành kinh tế, cơ cấu loại hình kinh tế…), thông qua các loại cơ cấu có tính yếu tố tác động và hiệu quả (lao động, đầu tư, ngân sách…).
Cơ cấu ngành kinh tế là cơ cấu phổ biến nhất trong các loại cơ cấu đối với các nước trên thế giới. Với Việt Nam đang trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thì cơ cấu và chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế càng có ý nghĩa.
Cơ cấu ngành kinh tế của Việt Nam từ năm 2010 đến nay thể hiện ở hình 1. Theo đó, cơ cấu và chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế từ năm 2010 đến nay đã đạt được một số kết quả tích cực.
Thứ nhất, tỷ trọng nông, lâm nghiệp - thủy sản giảm, tỷ trọng công nghiệp - xây dựng và dịch vụ tăng là đúng hướng trong quá trình công nghiệp hóa để trở thành nước công nghiệp và xu hướng tăng tỷ trọng dịch vụ của thế giới.
Thứ hai, kinh tế thực (gồm nông, lâm nghiệp - thủy sản và công nghiệp – xây dựng) vẫn chiếm tỷ trọng cao hơn của kinh tế dịch vụ là phù hợp với các nền kinh tế trong quá trình đang chuyển đổi để ứng phó với sự biến động từ bên ngoài thông qua sự “xâm lược” của dịch vụ (do đồng tiền Việt Nam chưa phải là đồng tiền chuyển đổi và các khâu dịch vụ vận tải, tài chính còn yếu chưa bảo đảm cho sự cạnh tranh hoặc hàng rào kỹ thuật của các nước đối với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam).
Thứ ba, việc chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế cũng cho thấy sự cần thiết được đẩy nhanh để đạt được mục tiêu giảm tỷ trọng lao động nông nghiệp trong tổng lao động xã hội xuống còn 26,5% trong năm 2024.
Từng nhóm ngành cụ thể cũng có những kết quả tích cực và đặt ra một số vấn đề về cơ cấu. Trong nhóm ngành nông, lâm nghiệp - thủy sản, ngành nông nghiệp có sự chuyển dịch nhanh khi tăng tỷ trọng cây rau quả, cây công nghiệp và vẫn giữ tỷ trọng cao của cây lúa. Ngành lâm nghiệp còn chiếm tỷ trọng rất nhỏ, trong khi ngành này có vai trò rất quan trọng trong chống lũ, cung cấp sản phẩm lâm nghiệp cho công nghiệp, xuất khẩu và ngày một quan trọng trong cam kết giảm thiểu ô nhiễm. Ngành thủy sản có tỷ trọng cao lên, trong đó tỷ trọng của thủy sản nuôi trồng đã vượt của khai thác.
Trong nhóm ngành công nghiệp - xây dựng, tỷ trọng ngành khai khoáng giảm là đúng hướng. Năm 2023, công nghiệp chế biến, chế tạo gặp khó khăn ở đầu ra, nên tăng trưởng thấp, làm cho tỷ trọng của ngành này trong GDP không đạt được mục tiêu (23,88% so với 25-25,8%), nên kế hoạch năm 2024 đã phải đưa xuống 24,1-24,2%.
Trong cơ cấu ngành công nghiệp chế biến, chế tạo theo trình độ công nghệ, tuy số doanh nghiệp công nghệ cao có tăng nhưng tỷ trọng vẫn còn thấp (năm 2021 là 12,82% so với 32,64% của doanh nghiệp công nghệ trung bình và 54,54% doanh nghiệp công nghệ thấp).
Tỷ trọng công nghệ trung bình tăng, trong khi tỷ trọng công nghệ thấp tuy có giảm nhưng vẫn còn lớn - lớn hơn tổng tỷ trọng có công nghệ cao và công nghệ trung bình. Điều đó chứng tỏ tỷ trọng công nghệ của doanh nghiệp trong nước còn yếu do quy mô còn nhỏ, vốn ít, năng lực tiếp thu công nghệ cao rất hạn chế.
Tỷ trọng công nghệ cao và tỷ trọng công nghệ trung bình tăng chủ yếu do doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng, nhưng tính gia công, lắp ráp còn cao, với mục tiêu chủ yếu là sử dụng số lượng lao động đông, giá nhân công rẻ và các ưu đãi mà Việt Nam được hưởng khi tham gia các FTA thế hệ mới.
Cơ cấu loại hình kinh tế là cơ cấu có tính đặc thù của các nước có nền kinh tế đang chuyển đổi sau đổi mới, mở cửa hội nhập như Việt Nam.
Cơ cấu loại hình kinh tế của Việt Nam trong một số năm như sau (Biểu đồ 2).
Qua biểu đồ có thể thấy tỷ trọng kinh tế nhà nước giảm, nhưng mức giảm rất nhẹ (năm 2021 là 21,8% so với 22,84% của năm 2015).
Trong lĩnh vực doanh nghiệp, tỷ trọng doanh nghiệp nhà nước (số doanh nghiệp, số lao động, số vốn, tài sản cố định và đầu tư tài chính dài hạn, doanh thu, thu nhập, lợi nhuận trước thuế) như sau (Bảng 1).
Nhìn chung, tỷ trọng doanh nghiệp nhà nước trong tổng số khu vực doanh nghiệp đã giảm xuống qua các năm. Đây là kết quả của công cuộc đổi mới, chuyển sang kinh tế thị trường để khai thác các nguồn lực của các loại hình kinh tế cho phát triển. So sánh giữa các chỉ tiêu, thì tỷ trọng lợi nhuận trước thuế đạt cao, tỷ trọng của doanh thu thuần, của thu nhập thấp so với tỷ trọng về vốn hoạt động. Tuy nhiên, tỷ trọng về các chỉ tiêu khác cao gấp nhiều lần tỷ trọng về số doanh nghiệp, kể cả tỷ trọng về số lao động; trong đó cao nhất là tỷ trọng về vốn hoạt động, tỷ trọng về doanh thu thuần, về thu nhập chỉ bằng một nửa tỷ trọng về vốn. Điều đó chứng tỏ hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước còn thấp...
Nội dung bài viết được đăng tải trên ẩn phẩm đặc biệt Kinh tế 2023-2024: Việt Nam & Thế giới phát hành ngày 06/03/2024. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
https://postenp.phaha.vn/chi-tiet-toa-soan/tap-chi-kinh-te-viet-nam




Tại cuộc hội kiến Chủ tịch Đảng Nhân dân Campuchia, Chủ tịch Thượng viện Hun Sen, Thủ tướng Lê Minh Hưng và Chủ tịch Hun Sen nhất trí thúc đẩy gắn kết kinh tế, phát triển hạ tầng biên giới, gia tăng đầu tư của Việt Nam vào Campuchia; đồng thời tháo gỡ khó khăn, tạo thuận lợi cho thương mại và đầu tư giữa hai nước.
Tại cuộc hội đàm ngày 9/10 ở Phnom Penh, Thủ tướng Lê Minh Hưng và Thủ tướng Campuchia Hun Manet nhất trí tăng cường kết nối hai nền kinh tế, thúc đẩy đầu tư, phát triển chuỗi giá trị công nghiệp và nông sản xuyên biên giới, phấn đấu nâng kim ngạch thương mại song phương lên 20 tỷ USD trong thời gian tới.
Thủ tướng Lê Minh Hưng nhấn mạnh yêu cầu tăng quy mô đầu tư, kết nối hạ tầng, logistics và đơn giản hóa thủ tục, hướng tới mục tiêu sớm đưa thương mại Việt Nam - Campuchia đạt 20 tỷ USD, đồng thời phát triển các chuỗi giá trị chung có sức cạnh tranh trên thị trường khu vực và quốc tế.
Tại cuộc hội kiến Chủ tịch Quốc hội Campuchia Khuon Sudary, Thủ tướng Lê Minh Hưng nhấn mạnh việc thúc đẩy hợp tác kinh tế thực chất, tăng cường kết nối hạ tầng, logistics, thương mại biên giới và phát triển các chuỗi giá trị công nghiệp, nông sản xuyên biên giới.
Chiều 9/10, tại Cung Hòa Bình ở Thủ đô Phnom Penh, Thủ tướng Chính phủ Hoàng gia Campuchia Hun Manet chủ trì lễ đón chính thức Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng và Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam, mở đầu các hoạt động trong khuôn khổ chuyến thăm chính thức Campuchia từ ngày 9-10/10/2026.
Giới chuyên gia đánh giá năm 2026 là thời điểm bản lề đối với thị trường bất động sản nghỉ dưỡng. Việc Nhà nước đang đẩy mạnh cải cách thể chế, chính sách để tháo gỡ rào cản về visa, thị thực, thời hạn… sẽ tạo ra các cơ hội, sức hút tốt cho khách du lịch.
Bà Mariam J. Sherman, Giám đốc Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam, Campuchia và CHDCND Lào, cho rằng cần xây dựng chính sách hướng tới nâng xếp hạng tín nhiệm quốc gia lên mức đầu tư, giúp giảm chi phí vay không chỉ cho Nhà nước mà cả những doanh nghiệp Việt Nam chịu ảnh hưởng từ xếp hạng tín nhiệm quốc gia.