
Tỷ lệ doanh nghiệp có website ở mức thấp, đặt trong các mối liên hệ, được cơ quan chuyên trách nhìn nhận ở khó khăn chung trong sản xuất kinh doanh.
Trong xu thế kinh doanh hiện đại, các doanh nghiệp dù kinh doanh trong lĩnh vực nào, quy mô ra sao đều cần có trang tin điện tử (website) riêng. Đây được xem như một phần phản ánh bộ mặt, cũng như tạo thêm kênh kết nối với thị trường của doanh nghiệp.
Thế nhưng, trong Báo cáo Thương mại điện tử năm 2011 do Bộ Công Thương thực hiện vừa công bố, tỷ lệ doanh nghiệp có website trong năm 2011 không thay đổi đáng kể so với năm trước sau khi đã loại trừ sai số giữa các cuộc điều tra, tiếp tục ở mức thấp. Tính chung trên cả nước mới chỉ có khoảng 30% doanh nghiệp có website.
Trong khi tỷ lệ doanh nghiệp có website không tăng, thì tỷ lệ những đơn vị kinh doanh chưa có website nhưng dự kiến sẽ xây dựng lại giảm so với các năm trước. Năm 2011 tỷ lệ này là 11% so với 21% của năm 2010 và 17% năm 2009.
Với hai chỉ số cơ bản trên đều không tăng, Bộ Công Thương đánh giá có thể do hậu quả của cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu tác động sâu sắc và toàn diện tới các doanh nghiệp Việt Nam. Do đó, doanh nghiệp cắt giảm tới mức cao nhất chi phí kinh doanh, gồm chi phí mới cho quảng cáo và đầu tư chiều sâu, kể cả cho xây dựng website.
Bổ trợ cho nhận định trên là khi xét tại 2 đại bàn trọng điểm là Hà Nội và Tp.HCM, tương ứng chỉ có 35% và 34% số doanh nghiệp có website. Còn nhìn trong xu hướng chung của giai đoạn 2006 - 2011, ba năm đầu tỷ lệ doanh nghiệp có website tăng lên, còn nửa chu kỳ sau tỷ lệ này không thay đổi nhiều.
“Có thể có mối quan hệ giữa xu hướng này với tình hình chung của nền kinh tế vĩ mô”, Cục Thương mại điện tử và Công nghệ thông tin (Bộ Công Thương) đặt ra mối liên hệ.
Báo cáo năm nay của Bộ vẫn cho cùng kết quả là nhóm doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghệ thông tin và thương mại điện tử tiếp tục tiên phong trong việc lập website với tỷ lệ 72% doanh nghiệp có website. Tỷ lệ này của năm 2010 là 63%.
Nhóm có tỷ lệ sở hữu website cao thứ hai thuộc về nhóm doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng và bất động sản với tỷ lệ 45%. Đây là một xu hướng rõ nét từ nhiều năm qua.
Một lĩnh vực khác có tỷ lệ website cao và ổn định là nông, lâm, thủy sản. Năm 2011, 37% nhóm doanh nghiệp này đã có website và 11% có kế hoạch xây dựng. Tỷ lệ tương ứng của năm 2010 là 32% và 21%.
Báo cáo đưa ra nhận định, suy thoái kinh tế hầu như không ảnh hưởng nhiều tới việc ứng dụng thương mại điện tử của nhóm doanh nghiệp kể trên. Điều này có thể được lý giải với tỷ lệ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản năm 2011 là 28% so với năm 2010. Bên cạnh đó, doanh nghiệp trong lĩnh vực này có xu hướng hội nhập và xuất khẩu cao nên coi trọng việc làm website giới thiệu hình ảnh và sản phẩm của doanh nghiệp.
Kết quả điều tra trong năm 2011 cũng đưa ra cảnh báo đối với các doanh nghiệp thuộc nhóm kinh doanh thương mại, bán buôn, bán lẻ có website khá thấp, chỉ với 28%. Và khi xét qua các năm, tỷ lệ có website ở những doanh nghiệp này luôn đứng ở vị trí thấp so với các nhóm doanh nghiệp khác. Điều này có thể là một cơ sở để góp phần lý giải chi phí phân phối hàng hóa và dịch vụ còn cao trong lĩnh vực này.
Nếu hạn chế về dịch vụ phóng không sớm được tháo gỡ, chi phí đưa vệ tinh lên quỹ đạo có thể sẽ lại tăng lên...
Máy bay không người lái (drone) được mở rộng ứng dụng trong phun thuốc bảo vệ thực vật, gieo sạ và bón phân, góp phần cơ giới hóa sản xuất, giảm chi phí và nâng cao hiệu quả canh tác, hướng tới phát triển nông nghiệp hiện đại.
Sự kiện quốc tế về bán dẫn quy mô lớn sắp diễn ra tại TP. Hồ Chí Minh, quy tụ doanh nghiệp từ hơn 20 quốc gia và vùng lãnh thổ với khoảng 200 gian hàng, tạo cơ hội kết nối doanh nghiệp Việt Nam với các đối tác trong chuỗi cung ứng bán dẫn toàn cầu...
HP, Asus và Acer được cho là đã chuyển một phần năng lực sản xuất máy tính PC trở lại Trung Quốc trong bối cảnh chi phí linh kiện ngày càng tăng…
Đông Nam Á đang bước vào thời kỳ bùng nổ đầu tư khi xuất khẩu chip tăng mạnh, góp phần đưa các nền kinh tế như Việt Nam và Philippines gia tăng thu nhập...
Theo nhận định của các chuyên gia, so với môi trường đầu tư cách đây vài năm thì thời điểm hiện tại nhà đầu tư cần chuyển hướng nhìn vào khả năng thanh khoản, khả năng đáp ứng nhu cầu thực... để dự án trở thành hàng hóa có khả năng thanh khoản. Nếu không sẽ dễ rơi vào tình cảnh tồn kho như số liệu Bộ Xây dựng vừa công bố mới đây.
Năm 2027, tổng nguồn cung đất san lấp, đá và cát xây dựng tại Thanh Hóa dự kiến đạt hơn 42 triệu m3. Việc đưa thêm các mỏ vào khai thác, kết hợp nguồn vật liệu từ các dự án thu hồi khoáng sản và sản xuất cát nhân tạo được kỳ vọng góp phần giảm áp lực thiếu hụt vật liệu phục vụ các công trình, dự án trên địa bàn.