
Tuần từ 24/4 - 28/4, lãi suất VND liên ngân hàng biến động tăng – giảm mạnh đan xen ở các kỳ hạn từ 1 tháng trở xuống. Chốt ngày 28/4, lãi suất VND liên ngân hàng giao dịch quanh mức: qua đêm 4,61% ( 1,38% so với phiên cuối tuần trước đó); 1 tuần 4,8% ( 1,1%); 2 tuần 4,93% ( 0,66 %); 1 tháng 5,24% ( 0,29%).
Lãi suất USD liên ngân hàng tăng – giảm nhẹ qua các phiên. Phiên cuối tuần 28/4, lãi suất USD liên ngân hàng đóng cửa ở mức: qua đêm 4,6% (-0,04 %); 1 tuần 4,7% (-0,04 %); 2 tuần 4,85% (-0,02 %) và 1 tháng 4,98% (-0,02 %).
Theo thống kê của nhóm nghiên cứu MSB, trên thị trường mở tuần từ 24/4 - 28/4, trên kênh cầm cố, Ngân hàng Nhà nước chào thầu 65.000 tỷ đồng kỳ hạn 14 ngày, 50.000 tỷ đồng 28 ngày, đều với lãi suất 5%. Có 23.167,34 tỷ đồng trúng thầu ở kỳ hạn 14 ngày, 753,48 tỷ đồng ở kỳ hạn 28 ngày; có 6.819,29 tỷ đồng đáo hạn.
Ngân hàng Nhà nước không chào thầu tín phiếu Ngân hàng Nhà nước và cũng không có tín phiếu đáo hạn trong tuần qua.
Như vậy, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng 17.101,53 tỷ đồng ra thị trường thông qua nghiệp vụ thị trường mở. Khối lượng lưu hành trên kênh cầm cố hiện tại tăng lên mức 66.191,26 tỷ VND, tín phiếu Ngân hàng Nhà nước giữ ở mức 110.699,8 tỷ VND.
Trong tuần 24-28/4, lợi suất trái phiếu chính phủ giảm ở tất cả các kỳ hạn. Chốt phiên 28/4, lợi suất trái phiếu chính phủ giao dịch quanh 1 năm 2,58% (-0,11 %); 2 năm 2,62% (-0,09 %); 3 năm 2,64% (-0,11 %); 5 năm 2,61% (-0,19 %); 7 năm 2,87% (-0,06 %); 10 năm 3,21% (-0,07 %); 15 năm 3,33% (-0,1 %); 30 năm 3,8% (-0,06 %).
Trên thị trường sơ cấp, ngày 26/4, Kho bạc Nhà nước huy động được toàn bộ 10.500 tỷ đồng trái phiếu chính phủ gọi thầu. Trong đó, kỳ hạn 5 năm huy động được 4.500 tỷ đồng và kỳ hạn 10 năm, 15 năm cùng huy động được 3.000 tỷ mỗi loại. Lãi suất trúng thầu các kỳ hạn trên lần lượt tại 5 năm 2,75% (-0,05 % so với lần trúng thầu trước); 10 năm 3,22% (-0,08 %) và 15 năm 3,33% (-0,07%). Tuần từ 24-28/4 không có trái phiếu chính phủ đáo hạn.
Giá trị giao dịch Outright và Repos (mua lại) trên thị trường thứ cấp tuần qua đạt trung bình 8.541 tỷ đồng/phiên, tăng mạnh so với mức 3.704 tỷ đồng/phiên của tuần trước đó.
Trên thị trường ngoại tệ, tuần từ 24-28/4, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước điều chỉnh tăng – giảm nhẹ qua các phiên. Chốt ngày 28/4, tỷ giá trung tâm được niêm yết ở mức 23.639 VND/USD, tăng 05 đồng so với phiên cuối tuần trước đó. Ngân hàng Nhà nước tiếp tục niêm yết tỷ giá mua giao ngay ở mức 23.450 VND/USD. Tỷ giá bán giao ngay được niêm yết ở mức 24.770 VND/USD, thấp hơn 50 đồng so với trần tỷ giá.
Tỷ giá liên ngân hàng giao dịch tăng – giảm đan xen trong tuần qua. Chốt phiên cuối tuần 28/4, tỷ giá liên ngân hàng đóng cửa tại 23.472 VND/USD, giảm 21 đồng so với phiên cuối tuần trước đó.
Tỷ giá trên thị trường tự do không biến động nhiều trong tuần qua. Chốt
phiên 28/4, tỷ giá tự do giảm 20 đồng ở cả hai chiều mua vào và bán ra
so với phiên cuối tuần trước đó, giao dịch tại 23.430 VND/USD và 23.480
VND/USD.
Giá vàng miếng SJC tại các hệ thống lớn tăng phổ biến 3 phiên liên tiếp (29/9 – 1/10), chênh lệch giá mua, bán vàng miếng SJC trong phiên 1/10 giá chủ yếu ở mức 3 triệu đồng/lượng. Riêng một đơn vị, mức chênh lệch này nới rộng lên mức 4,5 triệu đồng/lượng cho thấy rủi ro nghiêng hẳn về phía người mua…
Nhưng thị trường không vì thế mà cho rằng ngân hàng trung ương này chỉ nâng lãi suất một lần rồi thôi...
Giá vàng thế giới đi xuống trong phiên giao dịch ngày thứ Tư (30/9), hoàn tất một tháng giảm sâu, dù số liệu lạm phát yếu hơn kỳ vọng của Mỹ khiến kỳ vọng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) tăng lãi suất trong tháng 10 sụt mạnh...
Từ ngày 1/10, chính sách thuế nhập khẩu ưu đãi đối với xăng, dầu và nhiên liệu bay tiếp tục được duy trì đến hết năm 2026, với mức áp dụng là 0% nhằm giảm chi phí đầu vào, hỗ trợ ổn định nguồn cung và hạn chế tác động của giá dầu thế giới…
Trong phiên 30/9, giá mua vàng miếng SJC phổ biến ở mức 141,1 triệu – 144,1 triệu đồng/lượng. So với giá bán thời điểm đầu tháng (148,4 triệu đồng/lượng), người mua thiệt tới 7,3 triệu đồng/lượng. Với vàng nhẫn “4 số 9”, mức thiệt còn lớn hơn, dao động từ 7,2 triệu – 9,7 triệu đồng/lượng…
Sau hơn 20 năm, ngành gỗ và nội thất Việt Nam đã vươn lên và nằm trong nhóm những trung tâm sản xuất lớn của thế giới. Tuy nhiên, phần lớn doanh nghiệp vẫn tập trung ở khâu sản xuất, trong khi năng lực thiết kế, xây dựng thương hiệu và phát triển thị trường còn hạn chế. Để nâng cao giá trị gia tăng, ngành cần chuyển từ thích ứng sang chủ động kiến tạo và làm chủ chuỗi giá trị toàn cầu.
Sở Giao dịch Chứng khoán TP Hồ Chí Minh (HOSE) cảnh báo nhà đầu tư và người dân về việc một số đối tượng đang giả mạo HOSE, sử dụng trái phép tên, hình ảnh và logo của HOSE.