Với hương vị đặc trưng và cách chế biến thủ công truyền thống, chè Tán Ma không chỉ mang lại thu nhập ổn định cho người dân mà còn khẳng định tiềm năng của những sản vật miền núi trong chiến lược phát triển kinh tế bền vững.
Bản Phụn, xã Trung Xuân (huyện Quan Sơn) những ngày hè nắng nhẹ, sương núi vẫn còn lãng đãng bay trong gió sớm. Giữa căn nhà sàn nhỏ, bà Hà Thị Thảo nhóm bếp than, đặt ấm nước sôi, tay rót chén trà thơm mời khách. “Tán Ma đấy, uống thử đi cháu, trà của rừng, của người Thái bản mình đó”, bà nói, giọng nhẹ như khói bếp.
Theo tiếng Thái, “Tán Ma” nghĩa là “khách quý đến nhà”. Cái tên ấy, vừa là cách đặt tên chè, vừa là lời chào đậm chất tình người vùng cao. Ngày xưa, người Thái sống du canh, du cư. Rời bản, họ có thể quên gùi gạo, bỏ quên nồi xoong, nhưng giống chè Tán Ma thì nhất định phải mang theo. “Chè là lễ, là nghĩa. Không có chè sao mời khách?”, bà Thảo nói.
Cây chè Tán Ma vốn mọc hoang trong rừng. Trước kia, bà con chỉ hái về sao thủ công, nấu nước uống để đỡ mệt mỏi. Tuy nhiên, không biết từ khi nào, mỗi khi có khách đến, chén trà Tán Ma trở thành món đầu tiên được mang ra. Thứ nước màu đỏ cam ấy thơm như cỏ cây sau cơn mưa, ngọt hậu nơi cuống họng, làm ấm lòng người thưởng trà.
Khác với chè xanh thông thường, búp chè Tán Ma nhỏ, cánh xoăn tự nhiên. Khi phơi khô có màu nâu sẫm, khi pha lên lại ánh hổ phách hoặc đỏ cam, sóng sánh trong chén gốm mộc. Vị chè nhẹ nhàng, dịu ngọt, không gắt, không đắng sâu như chính tấm lòng người làm ra nó...
Cách làm chè của người Thái cũng không giống nơi nào. Chè được hái vào buổi sáng những ngày trời nắng đẹp, phơi trong bóng râm, vò chè đã héo bằng tay, ủ chè và ướp sương ban mai, phơi nắng tự nhiên, bảo quản trong chum, vại.
Bà Hà Thị Thảo tâm sự: "Từ khi về làm dâu ở bản Phụn, bà đã được mẹ chồng chỉ dạy cách hái, vò và phơi chè sao cho đạt độ thơm ngon nhất. Những cây chè trong vườn đồi của gia đình đã có từ trước khi bà về làm dâu. Trước đây, bà Thảo và mẹ chồng thường hái và sơ chế chè phục vụ nhu cầu hàng ngày của gia đình và để dành biếu bạn bè, người thân mỗi dịp tới chơi nhà".
Không chỉ là một thói quen uống trà, giờ đây cây chè Tán Ma đang được xem là hướng đi bền vững để phát triển kinh tế vùng cao. Từ một sản vật bản địa ít người biết, chè Tán Ma đã “vươn mình” ra khỏi bản làng, bước vào chương trình "Mỗi xã một sản phẩm (OCOP)", từng bước trở thành sản phẩm chủ lực tại các xã miền núi Quan Sơn, Quan Hóa.
Tại xã Hiền Kiệt (huyện Quan Hóa), nơi có độ cao trên 700m, khí hậu mát mẻ, thổ nhưỡng tốt, bà con đã mạnh dạn chuyển từ hái chè tự nhiên sang trồng tập trung. Nhờ trồng xen với rừng, cây chè ít sâu bệnh, không cần phân bón hóa học, đáp ứng tiêu chuẩn sản xuất sạch. Hiện xã đã có gần 50 ha chè Tán Ma, do các hộ dân người Thái trực tiếp canh tác.
Với hương vị đặc trưng và cách chế biến thủ công truyền thống, chè Tán Ma không chỉ mang lại thu nhập ổn định cho người dân mà còn khẳng định tiềm năng của những sản vật miền núi trong chiến lược phát triển kinh tế bền vững.
Từ năm 2021, sản phẩm “Chè Tán Ma Hiền Kiệt” chính thức được chứng nhận OCOP 3 sao cấp tỉnh. Mỗi tháng, hàng trăm kg chè khô được chế biến và tiêu thụ ra thị trường, với giá bán trung bình 150.000 – 200.000 đồng/kg. Nhờ có cây chè Tán Ma, thu nhập của nhiều hộ dân được cải thiện rõ rệt.
Ở xã Trung Xuân, huyện Quan Sơn, mô hình nhóm sản xuất chè Tán Ma do phụ nữ làm chủ cũng đang cho thấy hiệu quả tích cực. Với hơn 30 thành viên canh tác 5 ha chè, nhóm không chỉ tập trung vào khâu chế biến, mà còn tham gia tích cực các hội chợ, sự kiện OCOP để quảng bá sản phẩm. Với những hoạt động này, chè Tán Ma Trung Xuân ngày càng được người tiêu dùng biết đến, trở thành món quà đặc sản được nhiều du khách ưa chuộng.
Một số hộ dân còn mạnh dạn đổi mới, thử nghiệm làm trà túi lọc, trà hòa tan, trà đóng hộp thủ công với mẫu mã đẹp, bao bì thân thiện môi trường. Những sản phẩm này không chỉ nâng cao giá trị chè mà còn giúp mở rộng thị trường tiêu thụ. Nhiều tour du lịch cộng đồng tại Pù Luông, Sầm Sơn, Mai Châu đã đưa chè Tán Ma vào danh mục quà tặng cho du khách.
Theo chính quyền huyện Quan Sơn, việc phát triển chè Tán Ma không chỉ mang lại hiệu quả kinh tế mà còn góp phần bảo tồn tri thức bản địa, nâng cao vai trò của phụ nữ và gìn giữ môi trường sinh thái. Cây chè được trồng xen dưới tán rừng tự nhiên, giúp giữ đất, giữ nước, hạn chế xói mòn và tạo sinh kế lâu dài cho người dân vùng cao.
Ông Hà Hoàng Thanh Tâm, Phó Trưởng phòng Nông nghiệp và Môi trường huyện Quan Sơn, cho rằng để sản phẩm chè Tán Ma bản Phụn (xã Trung Xuân) được công nhận OCOP, cần mở rộng diện tích, áp dụng khoa học kỹ thuật vào khâu chăm sóc, thu hái và chế biến để nâng cao năng suất, chất lượng.
Bên cạnh đó, theo ông Tâm, cần cải tiến mẫu mã bao bì, xây dựng nhãn hiệu, tổ chức lại sản xuất từ nhóm hộ lên hợp tác xã để liên kết sản xuất, tiêu thụ và nâng quy mô vùng trồng.
Về định hướng dài hạn, địa phương sẽ xây dựng vùng nguyên liệu ổn định, phát triển chè Tán Ma thành sản phẩm OCOP bền vững, gắn với du lịch và văn hóa bản địa. Qua đó, góp phần nâng cao năng lực sản xuất sản phẩm hàng hóa, tạo việc làm ổn định, giúp người dân yên tâm giữ rừng, giữ bản.
Giữa guồng quay của hiện đại hóa, việc một sản phẩm truyền thống như chè Tán Ma vẫn giữ được nét mộc mạc, thủ công, gắn liền với đời sống cộng đồng là điều đáng trân quý. Không chỉ vì lợi ích kinh tế, mà còn bởi đây là kết tinh của văn hóa, ký ức và lòng mến khách bao đời của người Thái nơi rẻo cao xứ Thanh.
Trước thềm Hội nghị COP31 tại Thổ Nhĩ Kỳ, Ấn Độ gia tăng phản đối Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (Carbon Border Adjustment Mechanism- CBAM) của Liên minh châu Âu (EU), trong khi nhiều nền kinh tế khác cũng tìm cách phản đối hoặc đàm phán miễn trừ. Tranh cãi này đang đặt EU trước bài toán khó: vừa bảo vệ tham vọng khí hậu, vừa tránh nguy cơ châm ngòi một cuộc xung đột thương mại mới…
Đại biểu Quốc hội đề nghị bổ sung nguyên tắc: các dự án ven biển, lấn biển, xây dựng công trình trên biển phải xác định rõ lối tiếp cận biển công cộng, bãi biển công cộng và không gian sinh hoạt truyền thống của cộng đồng; không được biến quyền tiếp cận hợp pháp của người dân thành quyền phụ thuộc vào sự cho phép của chủ đầu tư...
Làm rõ quyền hưởng lợi của các chủ thể tham gia tạo ra kết quả giảm phát thải, hấp thụ khí nhà kính, bảo đảm thống nhất với pháp luật về lâm nghiệp; bảo đảm hài hòa lợi ích giữa các bên, tạo động lực cho người dân, cộng đồng tham gia bảo vệ rừng...
Chương trình dự án nghiên cứu giải trình tự hệ gene 1.000 giống lúa Việt Nam hướng tới xây dựng cơ sở dữ liệu di truyền quy mô lớn, làm nền tảng cho bảo tồn nguồn gene bản địa và chọn tạo giống mới có chất lượng cao, thích ứng với biến đổi khí hậu và giảm phát thải…
Từ các cuộc hội thảo, nghiên cứu chung và đề xuất dự án, hợp tác Việt Nam – Nhật Bản tại Nghi Sơn đang hướng tới một chuỗi công việc cụ thể: thu khí thải tại nhà máy, vận chuyển và lưu trữ dưới lòng đất.
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội 10 tháng đầu năm 2026 ghi nhận nhiều con số kỷ lục. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu lần đầu tiên vượt mốc 1.000 tỷ USD, vốn FDI đăng ký đạt mức cao nhất kể từ năm 2009 đến nay (54,85 tỷ USD), vốn FDI thực hiện cũng đạt mức cao nhất trong 5 năm qua (24,08 tỷ USD). Cùng với sự phục hồi mạnh mẽ của sản xuất công nghiệp, bán lẻ và du lịch, nền kinh tế Việt Nam đang chứng tỏ đà tăng trưởng vững chắc…
Lần đầu tiên kim ngạch xuất nhập khẩu vượt mốc 1.000 tỷ USD, vốn FDI đăng ký lập đỉnh cao nhất trong vòng 17 năm qua, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng. Tuy nhiên, diện tích gieo cấy lúa lại giảm tới hàng chục nghìn ha, bình quân vẫn còn tới 18,2 nghìn doanh nghiệp rút lui khỏi thi trường. Đó là những điểm nhấn trong tổng quan bức tranh kinh tế Việt Nam 10 tháng qua.