
Việc chuyển đổi số trong giáo dục nghề nghiệp nhằm triển khai các hoạt động giáo dục nghề nghiệp trên môi trường số, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, hoạt động dạy học, phương pháp dạy học, kiểm tra, đánh giá giúp tăng cường hiệu quả công tác quản lý và mở rộng phương thức cũng như cơ hội tiếp cận giáo dục nghề nghiệp tạo đột phá về chất lượng, tăng nhanh số lượng đào tạo góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực có kỹ năng nghề, tăng năng suất lao động và năng lực cạnh tranh quốc gia trong bối cảnh hội nhập quốc tế.
Về phát triển năng lực số cho đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục nghề nghiệp, Chương trình phấn đấu đến năm 2030 đạt 100% nhà giáo và cán bộ quản lý được đào tạo bổ sung nâng cao năng lực số, kỹ năng, phương pháp sư phạm phù hợp để triển khai đào tạo trên môi trường số; 100% nhà giáo của các cơ sở giáo dục nghề nghiệp được đào tạo phát triển học liệu số.
Đến năm 2030, phấn đấu 100% chuẩn đầu ra chương trình đào tạo của các trình độ được tích hợp năng lực số, có nội dung đào tạo phù hợp với phương thức chuyển đổi số; phấn đấu 100% chương trình đào tạo chuyên ngành công nghệ thông tin, công nghệ số được cập nhật phù hợp với ứng dụng khoa học công nghệ mới.
Ngoài ra chương trình cũng đặt mục tiêu hình thành nền tảng số giáo dục nghề nghiệp quốc gia và kho học liệu, tài nguyên số dùng chung phục vụ cho hoạt động dạy và học vào năm 2025.
Đến năm 2030, phấn đấu 100% trường cao đẳng, trường trung cấp có hạ tầng số, nền tảng số để kết nối, khai thác với nền tảng số giáo dục nghề nghiệp quốc gia.
Phấn đấu 100% dịch vụ công trực tuyến mức độ 4 được tích hợp lên Cổng dịch vụ công quốc gia và tích hợp vào cổng dịch vụ công và Hệ thống thông tin điện tử của Bộ Lao động-thương binh và xã hội vào năm 2023.
Phấn đấu 100% cơ sở giáo dục nghề nghiệp đến năm 2030 số hóa quá trình học tập, kết quả học tập, văn bằng giáo dục nghề nghiệp của người học và kết nối, tích hợp dữ liệu lên môi trường số.
Bên cạnh đó, mục tiêu khác của Chương trình là hình thành bản đồ số mạng lưới cơ sở giáo dục nghề nghiệp vào năm 2025 và liên kết bản đồ số mạng lưới cơ sở giáo dục nghề nghiệp với các hệ thống chứng thực và tra cứu thông tin giáo dục nghề nghiệp vào năm 2030.
Nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu mà Chương trình đưa ra là xây dựng hoàn thiện thể chế, cơ chế chính sách phục vụ chuyển đổi số trong lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp; phát triển chương trình, nội dung đào tạo các cấp trình độ giáo dục nghề nghiệp phù hợp với yêu cầu của chuyển đổi số trong nền kinh tế và hội nhập quốc tế; phát triển hạ tầng, nền tảng, thiết bị và học liệu số.
Song song với đó là phát triển năng lực số cho đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục nghề nghiệp và đổi mới phương pháp dạy và học; chuyển đổi số hoạt động quản lý nhà nước và quản trị nhà trường; huy động nguồn lực cho quá trình chuyển đổi số giáo dục nghề nghiệp; nâng cao nhận thức và hợp tác quốc tế; bảo đảm an toàn, an ninh mạng.
Dữ liệu thống kê cho thấy cả nước hiện có khoảng 1,6 triệu thanh niên không có việc làm, không tham gia học tập hoặc đào tạo, dẫn đến nguy cơ lãng phí về nguồn nhân lực trẻ, cũng như áp lực cho hệ thống an sinh xã hội, theo lãnh đạo Bộ Nội vụ...
Bộ Y tế ban hành hướng dẫn về việc triển khai thí điểm hoạt động khám chữa bệnh từ xa và hỗ trợ khám chữa bệnh từ xa, nhằm làm rõ các mô hình triển khai, điều kiện thực hiện, trách nhiệm chuyên môn và yêu cầu bảo đảm an toàn người bệnh, bảo mật thông tin...
Thời gian qua, chất lượng khám chữa bệnh tại các trạm y tế cơ sở đã có nhiều thay đổi rõ nét nhờ chuyển đổi số. Công nghệ được ứng dụng vào quản lý, khám chữa bệnh, đang mở thêm cách để y tế đến gần người dân vùng cao…
Việc ứng dụng công nghệ không chỉ góp phần gia tăng giá trị sản phẩm, mở rộng đầu ra, mà còn tạo sinh kế bền vững cho đồng bào vùng dân tộc thiểu số nơi vùng trồng…
Theo Viện kiểm sát nhân dân tối cao, bị can Nguyễn Ngọc Thủy đã chỉ đạo thực hiện 26.354 hợp đồng chuyển nhượng cổ phần không có thật cho 10.123 bị hại với số tiền chiếm đoạt là hơn 8.459 tỷ đồng.
Việt Nam luôn cần vốn ngoại để mở xưởng, tạo việc làm, thúc đẩy xuất khẩu và kết nối toàn cầu. Bước sang năm 2026, khi vị thế kinh tế đã khác, thu hút FDI của Việt Nam đòi hỏi chuẩn mực khắt khe hơn: phải xanh, số hóa, công nghệ cao, có sức lan tỏa và giúp Việt Nam từng bước làm chủ, tiến tới sở hữu công nghệ gốc.
Theo các chuyên gia, thay vì cạnh tranh bằng ưu đãi thuế hoặc chi phí lao động giá rẻ, Việt Nam cần chuyển hướng cạnh tranh bằng chất lượng hạ tầng đô thị, dịch vụ công và môi trường sống thân thiện.