
Bản tin công bố sáng 3/2 của Bộ Y tế ghi nhận thêm 9 ca mắc Covid-19 mới, gồm các bệnh nhân từ 1.883-1.891, đều là các ca cộng đồng tại Gia Lai, Hải Dương, Bình Dương và Hà Nội.
Trong đó, Tp Hà Nội ghi nhận 1 bệnh nhân 1.883, là F1 của bệnh nhân 1.814 liên quan ổ dịch Tp Chí Linh, tỉnh Hải Dương. Như vậy, đây là ca nhiễm thứ 21 được ghi nhận tại Hà Nội trong đợt dịch này.
Tỉnh Hải Dương ghi nhận 2 bệnh nhân 1.884-1.885, đều là công nhân Tp Chí Linh, tỉnh Hải Dương, đã được cách ly, không có nguy cơ lây nhiễm ra cộng đồng, lấy mẫu xét nghiệm lần đầu âm tính ngày 28/1. Tổng số ca nhiễm tại Hải Dương đến sáng nay là 226 người.
Tỉnh Bình Dương ghi nhận 2 bệnh nhân 1.886-1.887, cả hai là F1 của bệnh nhân 1.843 và bệnh nhân 1.801 liên quan ổ dịch Tp Chí Linh, tỉnh Hải Dương. Như vậy, đến nay Bình Dương có 4 ca nhiễm.
Tỉnh Gia Lai ghi nhận 4 bệnh nhân từ 1.888-1.891, trong đó 3 ca là F1 liên quan ổ dịch Công ty POYUN, tỉnh Hải Dương; 1 ca bệnh đang được điều tra dịch tễ. Đến nay, Gia Lai có tổng số 13 ca bệnh.
Tổng số người tiếp xúc gần và nhập cảnh từ vùng dịch đang được cách ly là 27.714 người, trong đó, cách ly tập trung tại bệnh viện 227 người, cách ly tập trung tại cơ sở khác 20.917 người, hơn 6.500 người cách ly tại nhà, nơi lưu trú
Số ca âm tính với SARS-CoV-2 lần 1 là 3 người, âm tính lần 2 là 7 người và âm tính lần 3 là 2 người. Số ca điều trị khỏi là 1.461 ca.
Hiện 10 tỉnh, thành ghi nhận ca nhiễm Covid-19 do lây nhiễm cộng đồng liên quan đến cụm dịch mới, trong đó Hà Nội 21 ca, Hải Dương 226 ca, Quảng Ninh 38 ca, Gia Lai 13 ca, Bắc Ninh 3 ca, Hòa Bình 2 ca, Bình Dương 4 ca, Tp. HCM, Hải Phòng và Bắc Giang mỗi nơi 1 ca.
Tính đến 6h ngày 3/2, Việt Nam có tổng cộng 1.003 ca mắc Covid-19 do lây nhiễm trong nước, trong đó số lượng ca mắc mới tính từ ngày 27/1 đến nay là 310 ca.
Trong xu thế chuyển dịch năng lượng toàn cầu, điện gió ngoài khơi đang vượt khỏi phạm vi của một nguồn điện tái tạo để trở thành một ngành công nghiệp mới, kéo theo cả hệ sinh thái từ khảo sát biển, chế tạo kết cấu, cáp và thiết bị điện, cảng biển, tàu dịch vụ, logistics, tài chính, bảo hiểm, đến vận hành, bảo dưỡng và công nghệ số. Để biến những cánh đồng gió ngoài khơi thành động lực tăng trưởng mới, Việt Nam cần đồng thời giải quyết bài toán quy hoạch không gian và nâng cao hiệu quả sử dụng năng lực công nghiệp ngoài khơi.
Muốn trở thành một quốc gia biển mạnh, Việt Nam không chỉ cần khai thác tốt hơn các nguồn lực từ biển mà còn phải từng bước làm chủ năng lực thiết kế, chế tạo, vận hành và cung cấp công nghệ cho các hoạt động trên biển.
Trong nhiều thập niên đã qua, lợi thế của du lịch biển thường được đo bằng số lượng bãi tắm đẹp hay lượng khách đến mỗi năm. Trong xu thế du lịch ngày càng cạnh tranh, những lợi thế ấy chỉ là điều kiện ban đầu.
Trong tiến trình chuyển dịch năng lượng, dầu khí Việt Nam đang đứng trước một bước ngoặt lớn: giá trị của ngành không còn chỉ được đo bằng sản lượng dầu, khí khai thác được từ lòng biển, mà ngày càng nằm ở năng lực khảo sát, thiết kế, chế tạo, lắp đặt, vận hành, bảo dưỡng, logistics, quản trị an toàn và làm chủ các công trình ngoài khơi. Nếu được nhìn nhận như một nền tảng công nghiệp và công nghệ, những năng lực được tích lũy qua nhiều thập kỷ có thể trở thành bệ phóng để Việt Nam bước vào các chuỗi giá trị mới.
Việt Nam đang sở hữu nguồn lợi hải sản và tài nguyên sinh học biển phong phú, từ nguồn gen, vi sinh vật, rong biển, vi tảo đến lượng lớn thủy sản. Tuy nhiên, lợi thế về sinh khối mới chỉ là điểm khởi đầu. Giá trị lớn hơn nằm ở khả năng phát hiện các hợp chất có hoạt tính sinh học, giải mã cơ chế, phát triển sản phẩm, làm chủ công nghệ tinh chế, tạo tài sản trí tuệ và đưa kết quả nghiên cứu ra thị trường.
Việt Nam luôn cần vốn ngoại để mở xưởng, tạo việc làm, thúc đẩy xuất khẩu và kết nối toàn cầu. Bước sang năm 2026, khi vị thế kinh tế đã khác, thu hút FDI của Việt Nam đòi hỏi chuẩn mực khắt khe hơn: phải xanh, số hóa, công nghệ cao, có sức lan tỏa và giúp Việt Nam từng bước làm chủ, tiến tới sở hữu công nghệ gốc.
Theo Tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên Hợp Quốc, xi măng đất sét nung (LC3) là vật liệu xây dựng mới và bền vững. Chi phí đầu tư thấp, thân thiện với môi trường và khí hậu hơn so với xi măng thông thường... việc phát triển, phổ biến xi măng hỗn hợp phù hợp với mục tiêu sản xuất và tiêu dùng bền vững mà Chính phủ đã đề ra.