
Tại họp báo thường kỳ tháng 10 của Bộ Khoa học và Công nghệ ngày 4/11, ông Hoàng Anh Tú, Phó Vụ trưởng Vụ Khoa học kỹ thuật và công nghệ, Bộ Khoa học và Công nghệ, thông tin về những nội dung trọng tâm của Đề án tái cấu trúc các chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia giai đoạn 2026 - 2035 (Quyết định số 1951/QĐ-TTg).
Theo ông Tú, trong thời gian qua, các chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia đã có những đóng góp quan trọng vào phát triển tiềm lực chung của toàn ngành.
Trong giai đoạn 2016–2025, Việt Nam đã triển khai khoảng 4.800 nhiệm vụ khoa học và công nghệ, công bố 6.677 bài báo quốc tế thuộc hệ thống Web of Science (WoS) và Scopus, đồng thời đào tạo được 1.579 tiến sĩ.
Đây là những kết quả đáng ghi nhận, góp phần nâng cao năng lực nghiên cứu và phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ trong nước. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai còn bộc lộ một số hạn chế.
Thứ nhất, nguồn lực còn phân tán. Nhiều nhiệm vụ quy mô nhỏ; có nội dung và mục tiêu giao thoa.
Chưa kể kết quả nghiên cứu chưa nối tiếp hiệu quả sang công nghệ, sản phẩm.
Và phương thức quản lý vẫn thiên về theo dõi quá trình thực hiện, trong khi việc đánh giá hiệu quả và tác động thực tế của các chương trình chưa được chú trọng đầy đủ.
Trước những hạn chế này, việc tái cấu trúc là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực, đồng thời đáp ứng yêu cầu phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong giai đoạn mới.
Tinh thần xuyên suốt của đề án là chuyển từ quản lý theo nhiệm vụ sang quản lý theo mục tiêu, sản phẩm, hiệu quả và tác động thực tế.
Ông Tú thông tin đề án xác định định hướng tổ chức lại hệ thống các chương trình khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia theo 6 nhóm.
Nhóm thứ nhất là phát triển tiềm lực, tập trung vào phát triển nguồn nhân lực, các tổ chức nghiên cứu, phòng thí nghiệm và hạ tầng khoa học, công nghệ dùng chung.
Nhóm thứ hai là nghiên cứu cơ bản, hướng tới tạo ra tri thức mới, các luận cứ khoa học và nền tảng cho phát triển công nghệ.
Nhóm thứ ba là các chương trình trọng điểm quốc gia, tập trung giải quyết những bài toán lớn, có tính liên ngành, tạo ra sản phẩm và giải pháp phục vụ phát triển đất nước.
Nhóm thứ tư là đổi mới sáng tạo, thúc đẩy ứng dụng, chuyển giao công nghệ, phát triển thị trường và thương mại hóa kết quả nghiên cứu.
Nhóm thứ năm là các chương trình quốc gia đặc biệt, tập trung nghiên cứu, phát triển, làm chủ công nghệ lõi, công nghệ chiến lược và hình thành các sản phẩm công nghệ chiến lược.
Nhóm thứ sáu là chuyển đổi số quốc gia, phục vụ phát triển chính phủ số, kinh tế số, xã hội số và đổi mới phương thức quản trị trên môi trường số.
Để hiện thực hóa định hướng trên, trong năm 2026, Bộ Khoa học và Công nghệ sẽ tổ chức rà soát 33 chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia.
Mục tiêu là hướng tới từng bước khắc phục tình trạng phân tán nguồn lực, giảm trùng lặp và tập trung đầu tư cho những nhiệm vụ có quy mô, trọng tâm, trọng điểm, có khả năng tạo ra kết quả thực chất.
Theo Quyết định số 1951/QĐ-TTg, đến năm 2030, đề án hướng tới một số chỉ tiêu cụ thể, thay vì chỉ dừng lại ở những định hướng mang tính định tính.
Cụ thể, ít nhất 50% nhiệm vụ đặt hàng có doanh nghiệp chủ trì hoặc phối hợp thực hiện. Tỷ lệ này dự kiến tăng lên 60% vào năm 2035.
Tỷ lệ kết quả nghiên cứu được bảo hộ sở hữu trí tuệ hoặc công bố quốc tế đạt 40% vào năm 2030 và 50% vào năm 2035.
Về phát triển nguồn lực nghiên cứu, mục tiêu là hình thành 30 nhóm nghiên cứu mạnh đạt chuẩn khu vực vào năm 2030 và ít nhất 50 nhóm đạt chuẩn quốc tế vào năm 2035.
Về phát triển sản phẩm, đến năm 2030, đề án phấn đấu hình thành ít nhất 20 sản phẩm trọng điểm, sản phẩm dữ liệu; đến năm 2035, có ít nhất 50 sản phẩm được thương mại hóa ở quy mô công nghiệp.
Cùng với đó, mục tiêu đặt ra là có ít nhất 20 doanh nghiệp làm chủ công nghệ vào năm 2030 và tăng lên ít nhất 30 doanh nghiệp vào năm 2035.
Các chỉ tiêu này cho thấy sự thay đổi trong cách tiếp cận đối với hoạt động khoa học và công nghệ.
Thành công của một chương trình không chỉ được đo bằng số lượng công trình nghiên cứu hay bài báo khoa học, mà còn phải thể hiện qua năng lực làm chủ công nghệ, số lượng và chất lượng sản phẩm được thương mại hóa, cũng như mức độ tham gia thực chất của doanh nghiệp.
Về lộ trình triển khai, Bộ Khoa học và Công nghệ xác định trong năm 2026, tập trung rà soát, tổ chức lại hệ thống chương trình, kiện toàn cơ chế điều phối và xây dựng nền tảng số dùng chung phục vụ công tác quản lý.
Trong quý 1/2027, Bộ sẽ hoàn thiện các công cụ và hướng dẫn đánh giá chương trình theo khung tiêu chí mới.
Giai đoạn 2027–2030 tập trung triển khai các nhiệm vụ giải quyết những bài toán lớn, phát triển công nghệ lõi và hình thành sản phẩm; đồng thời tổ chức đánh giá giữa kỳ.
Giai đoạn 2031–2035 tiếp tục triển khai đánh giá tác động, điều chỉnh phù hợp và tổng kết đề án vào năm 2035.
Cũng tại họp báo, ông Trần Hậu Ngọc, Phó Chủ tịch Ủy ban Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Quốc gia, Bộ Khoa học và Công nghệ, đã thông tin về dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đo lường dự kiến trình Quốc hội tại kỳ họp lần này.
Dự thảo Luật không thay đổi phạm vi điều chỉnh so với luật hiện hành. Sau quá trình tiếp thu, chỉnh lý, dự thảo sửa đổi, bổ sung và bãi bỏ một số điều, tổng cộng tác động đến 24 trên 57 điều của Luật hiện hành.
Bên cạnh các nội dung mới liên quan đến chuyển đổi số và đổi mới phương thức quản lý, Dự thảo còn phát triển năng lực đo lường quốc gia và phát huy vai trò của doanh nghiệp, ưu tiên phát triển các chuẩn đo lường phục vụ công nghệ chiến lược, năng lượng mới, kinh tế số và kinh tế xanh.
"Lần đầu tiên, Chương trình bảo đảm đo lường tại tổ chức, doanh nghiệp được luật hóa theo hướng tự nguyện. Chi phí thực hiện được tính là chi cho khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; kết quả thực hiện được xem xét để miễn, giảm kiểm tra nhà nước", ông Ngọc cho hay.
Ngoài ra, Dự thảo phân định rõ hai cơ chế. Với phương tiện đo nhóm 1 và chuẩn đo lường không dùng trực tiếp để kiểm định phương tiện đo nhóm 2, các tổ chức công bố năng lực và tự chịu trách nhiệm.
Với nhóm 2, Nhà nước đánh giá, chỉ định tổ chức đủ năng lực. Đồng thời, bỏ thủ tục chứng nhận chuẩn công tác; xóa bỏ phân loại hàng đóng gói sẵn và thủ tục cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện sử dụng dấu định lượng; làm rõ trách nhiệm của các bộ và thẩm quyền kiểm tra giữa các cấp. Các sửa đổi này cắt giảm, đơn giản hóa 08 thủ tục hành chính, nhưng vẫn bảo đảm độ chính xác của phép đo, chống gian lận thương mại và bảo vệ người tiêu dùng.
Về nguồn lực thi hành, dự thảo luật không làm phát sinh tổ chức, biên chế mới. Kinh phí thực hiện được bố trí trong dự toán chi cho khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo cùng các nguồn kinh phí hợp pháp khác.
Những sửa đổi này tạo cơ sở pháp lý để cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, tiết kiệm chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp. Song cơ quan quản lý sẽ thực hiện các biện pháp cần thiết nhằm bảo đảm độ chính xác của phương tiện đo, đồng thời phòng, chống gian lận thương mại và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Đại biểu đề nghị quy định rõ ngay trong luật hoặc xác định nguyên tắc không chuyển dữ liệu cấp độ 5, trừ trường hợp đặc biệt do Thủ tướng quyết định, hoặc nếu chỉ cấm một nhóm trong cấp độ 5, phải quy định tiêu chí nhận diện nhóm bị cấm và cơ chế áp dụng đối với phần còn lại…
Đại biểu Quốc hội đề nghị hoàn thiện dự thảo Luật Định danh và xác thực điện tử theo hướng kế thừa dữ liệu, mã định danh đã có, đồng thời quy định rõ trách nhiệm khai thác, cập nhật và sửa sai dữ liệu, tránh tình trạng người dân phải kê khai lại thông tin, xuất trình giấy tờ hoặc tự đi nhiều cơ quan để xử lý sai lệch giữa các hệ thống dữ liệu...
Khi xây dựng nghị định cho Luật An ninh dữ liệu, Chính phủ sẽ quy định bộ tiêu chí định lượng, định tính có thể kiểm chứng để doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa tự xác định đúng cấp độ, không bị đặt nghĩa vụ vượt mức cần thiết...
Cơ quan quản lý cấm nhập khẩu điện thoại thông minh đã qua sử dụng nhằm hạn chế lượng rác thải điện tử phát sinh, cũng như nguy cơ mất an toàn thông tin, rò rỉ dữ liệu cá nhân…
Các đại biểu cho rằng, phân loại cấp độ rủi ro là công cụ quan trọng để xác định mức độ bảo vệ phù hợp, do đó đề nghị Ban soạn thảo quy định rõ tiêu chí phân loại rủi ro an ninh dữ liệu, phương pháp đánh giá và chủ thể chịu trách nhiệm, tiêu chí phân cấp phải rõ, kiểm chứng được và áp dụng thống nhất…
Chuyển đổi xanh ngành lúa gạo tại Đồng bằng sông Cửu Long không chỉ đòi hỏi giảm phát thải, nâng cao chất lượng hạt gạo mà còn phải bảo đảm sinh kế và phân chia lợi ích công bằng. Dự án GORICE hướng tới phát triển chuỗi giá trị lúa gạo bền vững, đồng thời trao quyền cho phụ nữ, người dân tộc thiểu số và các nhóm yếu thế tham gia, hưởng lợi bình đẳng.
Trưa ngày 4/11, tại Họp báo Chính phủ thường kỳ, việc điều chỉnh thuế TTĐB đối với xăng về 0% và giảm giá bán lẻ điện 2% tác động như thế nào tới CPI; kịch bản điều hành giá để kiểm soát CPI theo mục tiêu hai tháng cuối năm... được Lãnh đạo Bộ Tài chính làm rõ.