
Theo quyết định của Bộ Giao thông Vận tải, Hội đồng thẩm định quy hoạch tuyến đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh gồm 30 thành viên do ông Nguyễn Danh Huy, Thứ trưởng Bộ Giao thông vận tải, làm Chủ tịch.
Ngoài ra, các thành viên khác trong hội đồng thuộc Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Ngoại giao, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Xây dựng, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp và đại diện 10 tỉnh, thành phố có tuyến đường sắt đi qua.
Trước đó, Cục Đường sắt Việt Nam đã trình Bộ Giao thông vận tải, tuyến đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh dài 447,66 km, có điểm đầu kết nối với đường sắt Trung Quốc tại tỉnh Lào Cai; điểm cuối tại ga Cái Lân thuộc TP.Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.
Tuyến đi qua 10 tỉnh thành, gồm Lào Cai, Yên Bái, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Hà Nội, Bắc Ninh, Hưng Yên, Hải Dương, Hải Phòng và Quảng Ninh. Dọc tuyến có 41 ga, trong đó ga Lào Cai vừa là ga lập tàu vừa đảm nhận là ga giao tiếp liên vận quốc tế và bốn ga hàng hóa tại các cảng Lạch Huyện, Nam Đồ Sơn, Nam Đình Vũ, Đình Vũ.
Tuyến có khoảng 145 cầu với chiều dài 106 km đi qua các con sông lớn như sông Hồng, sông Lô, sông Bạch Đằng và các cầu vượt đường bộ cao tốc như Hà Nội - Lào Cai, Hà Nội - Hải Phòng, Hải Phòng - Quảng Ninh, các đường quốc lộ và một số đường tỉnh; 42 hầm với chiều dài 23,2 km trên địa bàn Lào Cai, Yên Bái.
Trên cơ sở phương án quy hoạch, tư vấn tính toán nhu cầu vốn để đầu tư tuyến đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh (trong thời kỳ quy hoạch đến 2050): 183.856 tỉ đồng. Trong đó: chi phí giải phóng mặt bằng 24.065 tỉ đồng; chi phí xây dựng và thiết bị 110.138 tỉ đồng; chi phí khác 16.104 tỉ đồng; chi phí dự phòng 33.551 tỉ đồng. Cục Đường sắt đề xuất để đầu tư dự án trên sẽ huy động vốn từ ba nguồn, đó là ngân sách Nhà nước, vốn vay ưu đãi và huy động vốn tư nhân.
Thời gian triển khai dự án theo hai giai đoạn. Trong đó, đến năm 2030 triển khai đầu tư xây dựng trước đoạn tuyến Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng, điện khí hoá, khổ 1.435. Đối với đoạn tuyến Hải Phòng - Quảng Ninh sẽ được nghiên cứu triển khai sau năm 2030 cùng với lộ trình đầu tư của tuyến đường sắt ven biển Nam Định - Thái Bình - Hải Phòng - Quảng Ninh.
Được biết, Dự án này Trung Quốc từng hỗ trợ nghiên cứu. Trong đó, Hồ sơ dự án đường sắt Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh được Cục Đường sắt lập dựa trên hồ sơ quy hoạch tuyến đường sắt khổ tiêu chuẩn Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng đã được Công ty HH Tập đoàn Viện thiết kế khảo sát số 5 đường sắt Trung Quốc thực hiện.
Tuy nhiên, trong quá trình tiếp nhận, Cục Đường sắt đã bổ sung nghiên cứu đoạn tuyến từ Hải Phòng đi Quảng Ninh làm cơ sở phê duyệt quy hoạch chi tiết tuyến đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh.
Nhịp chính vòm thép nặng khoảng 3.400 tấn của cầu đi bộ qua sông Sài Gòn đã hoàn thành thử tải tại nhà máy, nhưng phương án lai dắt về công trường vẫn cần được xem xét kỹ lưỡng trước khi triển khai.
Trong 9 tháng năm 2026, Đồng Nai thu hút gần 2,4 tỷ USD vốn FDI, đạt gần 80% kế hoạch năm, với dòng vốn chủ yếu tập trung vào công nghiệp chế biến, chế tạo, công nghiệp hỗ trợ và logistics.
Hải Phòng đã đưa thêm 10 khu đất (đợt 2) tổng diện tích hơn 61ha vào thí điểm phát triển nhà ở thương mại…
Với hơn 41.000 người nước ngoài đăng ký tạm trú tại địa bàn, chủ yếu là chuyên gia và lao động tại các doanh nghiệp FDI, nhu cầu nhà ở và môi trường sống đồng bộ ngày càng rõ nét tại Bắc Ninh...
Số lượng người nước ngoài làm việc và sinh sống tại Việt Nam ngày càng tăng, nhưng thị trường nhà ở dành cho nhóm khách hàng này vẫn chưa phát triển tương xứng. Tại Bắc Ninh, khoảng cách giữa nhu cầu tiềm năng và khả năng tiếp cận nhà ở đang đặt ra nhiều vấn đề về nguồn cung, chính sách và dịch vụ…
Giới chuyên gia đánh giá năm 2026 là thời điểm bản lề đối với thị trường bất động sản nghỉ dưỡng. Việc Nhà nước đang đẩy mạnh cải cách thể chế, chính sách để tháo gỡ rào cản về visa, thị thực, thời hạn… sẽ tạo ra các cơ hội, sức hút tốt cho khách du lịch.
Trong 9 tháng năm 2026, Đồng Nai thu hút gần 2,4 tỷ USD vốn FDI, đạt gần 80% kế hoạch năm, với dòng vốn chủ yếu tập trung vào công nghiệp chế biến, chế tạo, công nghiệp hỗ trợ và logistics.