
Ngày 4/8/2025, tại Hà Nội, Bộ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Hồng Diên đã có buổi hội đàm chính thức với Bộ trưởng Bộ Công Thương Lào Malaithong Kommasith, nhân chuyến thăm và làm việc tại Việt Nam của Đoàn đại biểu cấp cao Bộ Công Thương Lào từ ngày 03–04/8/2025.
Phát biểu tại buổi hội đàm, Bộ trưởng Nguyễn Hồng Diên đánh giá cao kết quả hợp tác thương mại song phương thời gian qua. Năm 2024, kim ngạch thương mại hai chiều đạt 2,25 tỷ USD, tăng 38,2% so với năm 2023 – lần đầu tiên vượt mốc 2 tỷ USD.
Riêng 6 tháng đầu năm 2025, kim ngạch đạt 1,78 tỷ USD, tăng 92,2% so với cùng kỳ năm trước. Lào tiếp tục xuất siêu sang Việt Nam, cho thấy năng lực sản xuất và xuất khẩu của Lào không ngừng được cải thiện.
Hai Bộ trưởng cũng hoan nghênh kết quả hợp tác trong lĩnh vực xúc tiến thương mại và kết nối doanh nghiệp, trong đó nổi bật là Hội chợ Thương mại Việt – Lào 2025 tổ chức tháng 7 tại Viêng Chăn với quy mô 250 gian hàng, thu hút đông đảo doanh nghiệp hai nước tham gia.
Nhằm thúc đẩy hơn nữa mối quan hệ hợp tác hai bên trong lĩnh vực công thương, Bộ trưởng Nguyễn Hồng Diên đề nghị phía Lào tăng cường cung cấp thông tin về nhu cầu thị trường, danh mục hàng hóa xuất – nhập khẩu và doanh nghiệp đầu mối để Việt Nam hỗ trợ kết nối hiệu quả với các nhà nhập khẩu lớn, hệ thống phân phối tại Việt Nam.
Đồng thời, xây dựng Quy hoạch tổng thể các dự án điện dự kiến bán sang Việt Nam, thay vì đề xuất riêng lẻ từng dự án nhỏ, nhằm giúp phía Việt Nam có cơ sở xây dựng chiến lược nhập khẩu điện một cách tổng thể, hài hòa với quy hoạch phát triển năng lượng quốc gia.
Phối hợp thúc đẩy triển khai các nội dung trong Hiệp định mua bán điện – than giữa Chính phủ hai nước ký ngày 09/01/2025 và Nghị định thư sửa đổi ký ngày 09/7/2025.
Mặt khác, tổ chức Hội nghị Hợp tác phát triển thương mại biên giới Việt Nam – Lào lần thứ XIII tại Thanh Hóa vào quý 4/2025 để tổng kết các kết quả đạt được và bàn biện pháp tháo gỡ vướng mắc, thúc đẩy thương mại biên giới.
Bộ trưởng Bộ Công Thương Lào Malaithong Kommasith cũng đề xuất Việt Nam chia sẻ kinh nghiệm trong cải cách, quản lý doanh nghiệp nhà nước, mô hình hợp tác công – tư (PPP) và cổ phần hóa doanh nghiệp; xem xét tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp liên quan đến việc xuất khẩu đường từ Lào sang Việt Nam theo Hiệp định Thương mại Việt Nam – Lào năm 2015 trong giai đoạn 2021–2022; hợp tác xây dựng kho xăng dầu và khu công nghiệp – kinh tế chung Việt – Lào.
Về các đề xuất này, Bộ trưởng Nguyễn Hồng Diên khẳng định tinh thần hợp tác, sẵn sàng phối hợp chặt chẽ và trao đổi cụ thể qua các đầu mối kỹ thuật hai bên, đảm bảo phù hợp quy định pháp luật và cân đối lợi ích hai phía.
Hai Bộ trưởng thống nhất, chuyến thăm và làm việc lần này của Bộ trưởng Malaithong Kommasith tại Việt Nam là dấu mốc quan trọng mở ra giai đoạn hợp tác mới, thực chất, hiệu quả và bền vững hơn giữa hai Bộ và hai nước.
Hai bên tiếp tục duy trì trao đổi đoàn, tăng cường kết nối giữa các đơn vị chức năng, tạo nền tảng vững chắc để phát triển mối quan hệ kinh tế, thương mại, năng lượng Việt Nam – Lào lên tầm cao mới.
Trong xu thế chuyển dịch năng lượng toàn cầu, điện gió ngoài khơi đang vượt khỏi phạm vi của một nguồn điện tái tạo để trở thành một ngành công nghiệp mới, kéo theo cả hệ sinh thái từ khảo sát biển, chế tạo kết cấu, cáp và thiết bị điện, cảng biển, tàu dịch vụ, logistics, tài chính, bảo hiểm, đến vận hành, bảo dưỡng và công nghệ số. Để biến những cánh đồng gió ngoài khơi thành động lực tăng trưởng mới, Việt Nam cần đồng thời giải quyết bài toán quy hoạch không gian và nâng cao hiệu quả sử dụng năng lực công nghiệp ngoài khơi.
Muốn trở thành một quốc gia biển mạnh, Việt Nam không chỉ cần khai thác tốt hơn các nguồn lực từ biển mà còn phải từng bước làm chủ năng lực thiết kế, chế tạo, vận hành và cung cấp công nghệ cho các hoạt động trên biển.
Trong nhiều thập niên đã qua, lợi thế của du lịch biển thường được đo bằng số lượng bãi tắm đẹp hay lượng khách đến mỗi năm. Trong xu thế du lịch ngày càng cạnh tranh, những lợi thế ấy chỉ là điều kiện ban đầu.
Trong tiến trình chuyển dịch năng lượng, dầu khí Việt Nam đang đứng trước một bước ngoặt lớn: giá trị của ngành không còn chỉ được đo bằng sản lượng dầu, khí khai thác được từ lòng biển, mà ngày càng nằm ở năng lực khảo sát, thiết kế, chế tạo, lắp đặt, vận hành, bảo dưỡng, logistics, quản trị an toàn và làm chủ các công trình ngoài khơi. Nếu được nhìn nhận như một nền tảng công nghiệp và công nghệ, những năng lực được tích lũy qua nhiều thập kỷ có thể trở thành bệ phóng để Việt Nam bước vào các chuỗi giá trị mới.
Việt Nam đang sở hữu nguồn lợi hải sản và tài nguyên sinh học biển phong phú, từ nguồn gen, vi sinh vật, rong biển, vi tảo đến lượng lớn thủy sản. Tuy nhiên, lợi thế về sinh khối mới chỉ là điểm khởi đầu. Giá trị lớn hơn nằm ở khả năng phát hiện các hợp chất có hoạt tính sinh học, giải mã cơ chế, phát triển sản phẩm, làm chủ công nghệ tinh chế, tạo tài sản trí tuệ và đưa kết quả nghiên cứu ra thị trường.
Việt Nam luôn cần vốn ngoại để mở xưởng, tạo việc làm, thúc đẩy xuất khẩu và kết nối toàn cầu. Bước sang năm 2026, khi vị thế kinh tế đã khác, thu hút FDI của Việt Nam đòi hỏi chuẩn mực khắt khe hơn: phải xanh, số hóa, công nghệ cao, có sức lan tỏa và giúp Việt Nam từng bước làm chủ, tiến tới sở hữu công nghệ gốc.
Theo Tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên Hợp Quốc, xi măng đất sét nung (LC3) là vật liệu xây dựng mới và bền vững. Chi phí đầu tư thấp, thân thiện với môi trường và khí hậu hơn so với xi măng thông thường... việc phát triển, phổ biến xi măng hỗn hợp phù hợp với mục tiêu sản xuất và tiêu dùng bền vững mà Chính phủ đã đề ra.