
Theo báo cáo, sự phục hồi trong nguồn tài trợ FinTech được thúc đẩy bởi 167 thương vụ bao gồm 13 vòng gọi vốn lớn, chiếm khoảng 2 tỷ USD trong tổng số vốn tài trợ.
Hầu hết các nhà đầu tư tỏ ra quan tâm đến các công ty FinTech ở giai đoạn cuối, đã vượt qua 10 trong số 13 vòng gọi vốn lớn trong năm nay. Xu hướng này báo hiệu sự thay đổi chiến lược của các nhà đầu tư trên một số thị trường ASEAN khi họ tiếp cận một cách thận trọng và ít rủi ro hơn trong việc hỗ trợ các công ty trưởng thành có cơ hội trỗi dậy mạnh mẽ hơn từ đại dịch.
Đặc biệt, với việc áp dụng hình thức thanh toán kỹ thuật số ngày càng tăng ở ASEAN, các nhà đầu tư đã đặt niềm tin và rót số tiền cao nhất vào các công ty FinTech giai đoạn cuối trong lĩnh vực thanh toán.
Theo bà Janet Young, Giám đốc Khối Số hóa và Kênh dịch vụ của Ngân hàng UOB cho biết, sự hồi sinh của các khoản đầu tư vào ngành FinTech tại ASEAN đã thể hiện qua nguồn tài trợ đạt mức kỷ lục 3,5 tỷ USD.
“Nhìn xa hơn sự phục hồi mạnh mẽ này là cơ hội xây dựng mối quan hệ hợp tác đôi bên cùng có lợi giữa các ngân hàng, các công ty FinTech và những đối tác trong nền tảng hệ sinh thái. Việc mở rộng ra toàn khu vực vẫn là công cụ thúc đẩy sự tăng trưởng bền vững của các công ty FinTech tại ASEAN”, bà Janet Young nhận định.
Các công ty FinTech có trụ sở tại Singapore tiếp tục thu hút nguồn vốn mạnh nhất trong ASEAN, chiếm gần 49% tổng số thương vụ thông qua 6 vòng gọi vốn lớn tương đương trị giá 972 triệu USD. Indonesia vẫn giữ vị trí thứ hai trong năm nay, thu về 904 triệu USD vốn tài trợ (26%).
Tiếp đến là Việt Nam, chiếm gần một phần mười (9%) trong tổng số 167 thương vụ, với số tiền tài trợ là 388 triệu USD. Trong đó, đóng góp lớn vào gia tăng này là 2 vòng gọi vốn lớn với 250 triệu USD vào VNPay và 100 triệu USD vào vòng gọi vốn Series D của MoMo.
Về lĩnh vực đầu tư, theo báo cáo công bố, các khoản tiền được rót vào các công ty công nghệ đầu tư và tiền điện tử ở ASEAN đã có mức tăng trưởng mạnh nhất trong năm nay, đưa cả hai danh mục lên vị trí thứ hai và thứ ba tương ứng sau danh mục thanh toán.
Đây cũng là lần đầu tiên trong 6 năm, hoạt động cho vay thay thế đã bị vượt ra khỏi 3 vị trí hàng đầu về nguồn vốn đầu tư do người tiêu dùng ngày càng quan tâm nhiều hơn đối với các khoản đầu tư kỹ thuật số và tiền tệ kỹ thuật số.
So với năm 2020, vốn tài trợ cho các công ty công nghệ đầu tư đã tăng 6 lần lên mức 457 triệu USD trong năm nay, phù hợp với sự quan tâm ngày càng tăng của người tiêu dùng đối với việc sử dụng các công cụ quản lý tài sản và giao dịch kỹ thuật số. Theo một cuộc khảo sát do UOB, PwC và SFA thực hiện, 6 trong số 10 người tiêu dùng ASEAN đã sử dụng các công cụ kỹ thuật số như cố vấn robot và nền tảng môi giới trực tuyến cho nhu cầu đầu tư của họ.
Vốn tài trợ cho các công ty tiền điện tử đứng thứ 3 với 356 triệu USD khi họ thu hút được gấp 5 lần số tiền nhận được vào năm 2020. Với tỷ lệ 9/10 người bắt đầu hoặc có kế hoạch sử dụng tiền điện tử và tiền tệ kỹ thuật số của ngân hàng trung ương, thị phần của các công ty tiền điện tử trong khu vực dự kiến sẽ tăng lên khi các công ty FinTech trong lĩnh vực này thu hút sự quan tâm ngày càng tăng của người tiêu dùng.
Thanh toán vẫn là danh mục FinTech được tài trợ nhiều nhất ở ASEAN trong năm nay với 1,9 tỷ USD và tiếp tục chiếm phần lớn các công ty FinTech ở hầu hết các quốc gia, ngoại trừ Singapore (tiền điện tử) và Thái Lan (cho vay thay thế). Việc rót vốn vào các công ty này sẽ đẩy nhanh việc sử dụng ví điện tử, thẻ ghi nợ và thẻ tín dụng và các ứng dụng ngân hàng di động vốn đã là những phương thức thanh toán phổ biến nhất của người tiêu dùng ASEAN sau tiền mặt.
Các công ty đã và đang áp dụng FinTech đang định hình lại thị trường. Với việc thanh toán kỹ thuật số trở thành tiêu chuẩn và các lĩnh vực như tài sản kỹ thuật số và tài sản tiền điện tử nhanh chóng nhận được sự quan tâm.
Kết nghiên cứu của PwC Singapore cho thấy rằng người tiêu dùng ở ASEAN đã chấp nhận một loạt các giải pháp FinTech cùng với trải nghiệm kỹ thuật số và họ đã sẵn sàng tiếp nhận một tương lai kỹ thuật số.
“Câu hỏi không còn là liệu FinTech có làm thay đổi bối cảnh kinh doanh hay không mà là làm thế nào để áp dụng và đưa vào một chiến lược lấy FinTech làm trung tâm, cùng sự bao hàm, tin cậy, minh bạch và trách nhiệm giải trình, để trở thành những người dẫn đầu thị trường”, bà Wanyi Wong, Lãnh đạo FinTech, PwC Singapore nhận định.
Thay đổi từ tư duy bồi thường thiệt hại về đất sang tư duy tái thiết cuộc sống cho người có đất bị thu hồi. Câu chuyện tái thiết sinh kế, việc làm, thu nhập cho người bị thu hồi đất là vấn đề trọng tậm cần được tập trung giải quyết.
Ngày 2/9/1945 đã mở ra bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không chỉ khẳng định quyền độc lập, tự do và tự quyết về chính trị, mà còn trao cho dân tộc Việt Nam quyền lựa chọn, kiến tạo con đường phát triển kinh tế vì lợi ích của đất nước và nhân dân. Từ thời khắc ấy, khát vọng độc lập gắn liền với khát vọng xây dựng một quốc gia tự chủ, giàu mạnh, trong đó thành quả phát triển phải nâng cao đời sống và mở rộng cơ hội tiến bộ cho mọi người dân.
Nhiều quốc gia trên thế giới đã coi trọng việc phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa từ cách đây gần 80 năm, còn Việt Nam mới chỉ bắt đầu công cuộc này cách đây một phần tư thế kỷ. Vì vậy, vẫn còn rất nhiều việc cần làm để phát huy tối đa vai trò của khu vực này, đóng góp nhiều hơn nữa cho sự phát triển của đất nước.
Nhân kỷ niệm 80 năm Ngày thành lập Ngành Thống kê Việt Nam (6/5/1946 - 6/5/2026), Cục Thống kê công bố cuốn sách “Cấu trúc kinh tế Việt Nam 40 năm đổi mới (1986-2025)”. Đáng chú ý, lần đầu tiên một số liệu quan trọng về tương quan giữa GDP sản xuất và GDP sử dụng được công bố, qua đó cho thấy những kết quả tích cực của nền kinh tế, đồng thời đặt ra không ít vấn đề cần tiếp tục phân tích.
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, phát triển kinh tế chưa bao giờ là mục tiêu tự thân. Đằng sau tăng trưởng, sản xuất và tích lũy của cải là một yêu cầu nhất quán: làm cho nhân dân có cuộc sống ngày càng ấm no, tự do, hạnh phúc; đồng thời, tạo nền tảng để dân tộc vươn lên độc lập, tự cường, phồn vinh. Trong bối cảnh Việt Nam hướng tới mục tiêu trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045, cách tiếp cận lấy con người làm trung tâm và khơi dậy khát vọng dân tộc tiếp tục gợi mở một hệ quy chiếu quan trọng cho lựa chọn mô hình phát triển.
Các thành phố lớn tại Việt Nam đang đối mặt với tình trạng “đô thị nén”, mật độ xây dựng cao, thiếu không gian mở và cây xanh. Điều này làm suy giảm khả năng thông gió tự nhiên, gia tăng hiện tượng đảo nhiệt đô thị và khiến con người ngày càng phụ thuộc vào hệ thống điều hòa…
Thay đổi từ tư duy bồi thường thiệt hại về đất sang tư duy tái thiết cuộc sống cho người có đất bị thu hồi. Câu chuyện tái thiết sinh kế, việc làm, thu nhập cho người bị thu hồi đất là vấn đề trọng tậm cần được tập trung giải quyết.