
Do nhu cầu thấp và ảnh hưởng tồn kho gạo cũ của Thái Lan, nên suốt thời gian dài xuất khẩu gạo của Việt Nam luôn trong tình trạng trì trệ. Tuy nhiên, 6 tháng đầu năm nay, xuất khẩu gạo đã khởi sắc trở lại, tăng 24,6% về lượng và tăng đến 42,4% về kim ngạch so với cùng kỳ. Sáu tháng cuối năm thị trường vẫn sẽ tốt vì nhu cầu từ các thị trường truyền thống đã củng cố thêm niềm tin xuất khẩu gạo.
Xuất khẩu gạo tháng 6/2018 ước đạt 604 ngàn tấn với 317 triệu USD, đưa xuất khẩu gạo 6 tháng đầu năm 2018 ước đạt 3,6 triệu tấn và 1,8 tỷ USD, tăng 24,6% về lượng và tăng 42,4% về giá trị so với cùng kỳ năm 2017. Giá xuất khẩu bình quân 5 tháng đầu năm đạt 505 USD/tấn, tăng 13,4% so với cùng kỳ năm 2017.
Nông dân - Doanh nghiệp - Nhà nước đều có lợi
Trung Quốc vẫn tiếp tục đứng nhất về thị trường nhập khẩu trong những tháng đầu năm nay với 30% thị phần, đạt 844,1 ngàn tấn và 449,4 triệu USD. Các thị trường có giá trị xuất khẩu gạo tăng mạnh là: Iraq (gấp 25,7 lần), Malaysia (gấp 2,8 lần), Hoa Kỳ (gấp 2,4 lần), Hồng Kông (tăng 49%), Philippines (tăng 37,9%) và Gana (tăng 17,9%).
Riêng thị trường Indonesia tăng đột biến, gấp 290,8 lần về lượng và tăng gấp 269,5 lần so với cùng kỳ năm ngoái, đạt 596.058 tấn, trị giá 280,04 triệu USD, chiếm 17,3% trong tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa các loại sang Indonesia.
Đánh giá tình hình xuất khẩu gạo trong 6 tháng qua, ông Trương Thanh Phong, Cố vấn Tập đoàn Golden Resources Development International. Ltd. H.K cho rằng, 6 tháng đầu năm nay sản xuất và xuất khẩu đều thuận lợi, cho dù diễn biến của thị trường giá có lúc tăng, lúc giảm. Nhưng nhìn chung, từ đầu năm đến nay giá gạo xuất khẩu và giá lúa trong nước đều tốt nên người dân và doanh nghiệp đều có lợi.
"Sản xuất và xuất khẩu gạo trong 6 tháng qua đều đạt hiệu quả rất cao nên 3 nhà: nông dân, doanh nghiệp và Nhà nước cùng có lợi, như vậy có thể nói sản xuất và xuất khẩu gạo đều được mùa. Đó là thành quả của ngành lúa gạo, tuy nhiên, cơ cấu giống vẫn chưa phù hợp, người nông dân vẫn làm theo cảm tính khiến nhiều lúc còn bị động. Vấn đề này cần rút kinh nghiệm, nhất là đối với những giống lúa theo làm phong trào", ông Phong cho hay.
Đánh giá về tình hình thị trường 6 tháng cuối năm 2018, các chuyên gia cho rằng, thị trường Trung Quốc chưa có tín hiệu rõ ràng, vì Trung Quốc đang vướng vào những căng thẳng thương mại với Mỹ nên tập trung vào vấn đề này là chính.
Thị trường đang có dấu hiệu tốt lên
Tuy nhiên, thị trường vẫn có nhu cầu tốt, dự báo, từ quý 4/2018 đến quý 1/2019, nhu cầu về gạo sẽ đến từ thị trường Philippines. Tin tức về việc Philippines mở thầu nhập khẩu gạo theo chương trình tiếp cận thị trường tối thiểu (MAV) 2018 với 805.200 tấn, góp phần vào nhu cầu nhập gạo trên thị trường này tăng cao, khi những lô hàng cuối cùng của gói thầu MAV 2017 sẽ hoàn tất trong vài tháng tới.
Nhu cầu mua gạo thị trường Indonesia và Malaysia dự kiến vẫn ổn định. Thị trường Bangladesh cũng có nhu cầu nhập khẩu gạo; còn đối với Trung Quốc, dù bị vướng vào cuộc chiến thương mại với Mỹ nhưng Trung Quốc vẫn phải nhập khẩu gạo để phục vụ nhu cầu nội địa, song có thể không cao như các năm trước.
Thị trường châu Phi vẫn có nhu cầu lớn và thường xuyên, Thái Lan không còn tồn kho gạo cũ nên sẽ khó có thể chi phối thị trường này. Nhìn chung, tiêu thụ lúa gạo trong năm 2018 sẽ rất tốt, song cần lưu ý trong quý 3/2018, thị trường có thể gặp khó khăn do Thái Lan được mùa, giá gạo có thể bị giảm và đồng bath mất giá rất mạnh, khiến giá gạo của Thái Lan và Việt Nam chênh lệch nhau từ 15 đến 20 USD/tấn.
Đây là bất lợi cho xuất khẩu gạo của Việt Nam. "Do vậy, từ đây đến cuối năm chúng ta phải cạnh tranh về giá với Thái Lan. Nếu giá gạo Việt Nam cao quá sẽ khó bán nhưng nếu đứng ở mức vừa phải thì xuất khẩu gạo sẽ rất tốt, do chúng ta có thị trường và có khách hàng. Dự báo, quý 4/2018 và quý 1/2019 thị trường lúa gạo sẽ rất tốt", ông Phong phân tích.
Theo Cục Trồng trọt (Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn), từ nay đến cuối năm, ngành lúa gạo còn thu hoạch thêm 2 vụ lúa hè thu và thu đông. Nếu thời tiết thuận lợi không có những diễn biến bất thường, sản lượng có khả năng đạt 23,3 triệu tấn, nâng sản lượng lúa cả năm lên 43,9 triệu tấn, tăng ít nhất 1,2 triệu tấn so với năm 2017.



Doanh nghiệp không chỉ cần thêm chính sách, mà còn cần chính sách ổn định, quy định thông suốt, thời hạn giải quyết thủ tục minh bạch và cơ quan chịu trách nhiệm rõ ràng. Quan trọng nhất là một môi trường kinh doanh có thể dự báo được, giúp doanh nghiệp yên tâm đầu tư, phát triển dài hạn...
Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc nhấn mạnh doanh nhân phải dám nghĩ lớn, đặt tầm nhìn dài hạn cùng 4 trụ cột: nuôi dưỡng khát vọng, tôi luyện năng lực, đề cao trách nhiệm, tiên phong đổi mới để từng bước làm chủ chuỗi giá trị toàn cầu...
Trải qua hơn bảy thập kỷ kể từ ngày tiếp quản Thủ đô năm 1954, công nghiệp Hà Nội từng bước phát triển, trở thành một trụ cột quan trọng của nền kinh tế. Bước vào năm 2026, sản xuất công nghiệp tiếp tục ghi nhận tín hiệu tích cực khi tăng trưởng 9 tháng đạt mức cao nhất trong gần một thập kỷ, góp phần thúc đẩy phục hồi và tăng trưởng kinh tế Thủ đô.
Mời quý độc giả đón đọc Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 41-2026 phát hành ngày 12/10/2025 với nhiều chuyên mục hấp dẫn...
Dù kim ngạch xuất khẩu cao, cà phê Robusta Việt Nam vẫn chủ yếu được biết đến như nguồn nguyên liệu cho các nhà rang xay quốc tế. Để thoát vai “làm nền”, ngành cà phê cần thu hẹp khoảng trống về thương hiệu, nâng cao giá trị chế biến và tăng cường liên kết trong chuỗi cung ứng…
Giới chuyên gia đánh giá năm 2026 là thời điểm bản lề đối với thị trường bất động sản nghỉ dưỡng. Việc Nhà nước đang đẩy mạnh cải cách thể chế, chính sách để tháo gỡ rào cản về visa, thị thực, thời hạn… sẽ tạo ra các cơ hội, sức hút tốt cho khách du lịch.
Tuyệt đối không để nền kinh tế thiếu điện và thiếu xăng dầu, đó là khẳng định từ Thứ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Đức Chi. Kịch bản tăng trưởng kinh tế 3 tháng cuối năm cũng được xác định rõ để từng bộ, từng địa phương đều hoàn thành kế hoạch của cả năm, đưa kinh tế cả nước đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số.