Theo thống kê công bố mới đây của Tổng cục Hải quan, trong năm 2016, 10 nhóm mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam đạt tổng kim ngạch 126,85 tỷ USD, chiếm 71,8% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước.
10 nhóm mặt hàng này nổi lên trong bối cảnh nhiều loại mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam năm qua giảm rất mạnh như dầu thô chỉ đạt 2,3 tỷ USD, giảm tới 36,5% so với cùng kỳ, xi măng giảm 16%, than đá giảm 23,8%, quặng và khoáng sản giảm 28,8%, phân bón giảm 24,9%...
Điện thoại và linh kiện
Đây là nhóm mặt hàng xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam, với giá trị khoảng 34,32 tỷ USD, tăng 13,8% so với cùng kỳ.
Các thị trường nhập khẩu điện thoại từ Việt Nam trong năm 2016 gồm thị trường EU với kim ngạch đạt gần 11,24 tỷ USD, tăng 11,1% so với cùng kỳ năm trước; Mỹ đạt kim ngạch hơn 4,3 tỷ USD, tăng 55,5%; Tiểu vương quốc Ả Rập Thống Nhất đạt kim ngạch 3,83 tỷ USD, giảm 14,5%; thị trường ASEAN đạt gần 2,27 tỷ USD, tăng 6,2%...
Hàng dệt may
Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may cả năm 2016 đạt hơn 23,84 tỷ USD, tăng 4,6% so với cùng kỳ năm trước.
Thị trường nhập khẩu hàng dệt may từ Việt Nam lớn nhất là Mỹ với kim ngạch hơn 11,45 tỷ USD, tăng 4,6% so với cùng kỳ năm trước; đứng thứ 2 là thị trường EU đạt kim ngạch hơn 3,56 tỷ USD, tăng 2,7%; thị trường Nhật Bản đạt kim ngạch hơn 2,9 tỷ USD, tăng 4,2%...
Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện
Kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này trong năm 2016 đạt 18,96 tỷ USD, tăng 21,5% so với năm trước, tương đương tăng 3,35 tỷ USD.
Trung Quốc là đối tác lớn nhất nhập khẩu nhóm hàng này của Việt Nam trong năm với 4,1 tỷ USD, tăng 47,2%; tiếp theo là EU đạt 3,73 tỷ USD, tăng 16,5%; sang Mỹ đạt 2,89 tỷ USD, tăng 2,05%; sang Hà Lan đạt 1,75 tỷ USD, tăng mạnh 53,5%... so với năm trước.
Giày dép
Xuất khẩu cả năm của nhóm hàng này đạt 13 tỷ USD, tăng 8,3% so với năm trước,
Xuất khẩu giày dép các loại sang Mỹ đạt 4,48 tỷ USD tăng gần 10%, sang EU đạt 4,22 tỷ USD tăng 3,51%; sang Trung Quốc đạt 905 triệu USD tăng 20%... so với năm 2015.
Máy móc, thiết bị, dụng cụ
Kim ngạch nhập khẩu cả năm của nhóm hàng này đạt hơn 10,14 tỷ USD, tăng 24,3% so với cùng kỳ.
Máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác từ Việt Nam chủ yếu được xuất khẩu sang Mỹ với kim ngạch gần 2,13 tỷ USD, tăng 27,2%; Nhật Bản đạt hơn 1,56 tỷ USD, tăng 10,9%; thị trường EU (28 nước) đạt hơn 1,29 tỷ USD, tăng 29,4%...
Thủy sản
Kim ngạch xuất khẩu cả năm của nhóm hàng này đạt 7,05 tỷ USD, tăng 7,4%, tương ứng tăng 484 triệu USD so với năm trước.
Hàng thủy sản chủ yếu được xuất khẩu sang Mỹ đạt 1,44 tỷ USD, tăng 9,7%; sang EU đạt 1,2 tỷ USD, tăng 3,6%; sang Nhật Bản 1,1 tỷ USD, tăng 6,2%; sang Trung Quốc đạt 685 triệu USD, tăng 53%...
Gỗ và sản phẩm gỗ
Kim ngạch xuất khẩu cả năm của nhóm này đạt gần 6,97 tỷ USD, tăng 1,1% so với cùng kỳ.
Gỗ và sản phẩm gỗ xuất khẩu trong năm 2016 chủ yếu sang: thị trường Mỹ với kim ngạch gần 2,83 tỷ USD, tăng 7% so với cùng kỳ năm trước; thị trường Trung Quốc với kim ngạch hơn 1,02 tỷ USD, tăng 4,7%; thị trường Nhật Bản đạt 981 triệu USD; giảm 5,9%...
Hàng nông sản (rau quả, hạt điều, cà phê, chè, hạt tiêu, gạo)
Mặc dù gạo sụt giảm mạnh song kim ngạch xuất khẩu của nhóm hàng này trong năm 2016 vẫn đạt hơn 12,45 tỷ USD, tăng 16,2% so với cùng kỳ.
Các thị trường nhập khẩu hàng nông sản từ Việt Nam trong năm 2016 chủ yếu là Trung Quốc với gần 3,13 tỷ USD, tăng 50,4%; thị trường EU với hơn 2,59 tỷ USD, tăng 16,2%; Mỹ đạt hơn 1,87 tỷ USD, tăng 25,2% so với cùng kỳ.
Phương tiện vận tải và phụ tùng
Dù có kim ngạch xuất khẩu giảm trong tháng 12 song cả năm vẫn đạt 6,05 tỷ USD, tăng nhẹ 3,7% so với năm trước. Xuất khẩu của nhóm này chủ yếu do các doanh nghiệp khối FDI thực hiện.
Túi xách, vali, mũ, ô dù
Đây là nhóm hàng mang về hơn 3,16 tỷ USD cho Việt Nam trong năm 2016, tăng 10,2% so với năm trước. Thị trường xuất khẩu tập trung chủ yếu là Mỹ, EU.
Việt Nam chủ yếu gia công nhóm mặt hàng này.




Ủy ban Kinh tế và Tài chính Quốc hội cơ bản tán thành chủ trương này, nhưng đề nghị làm rõ căn cứ áp dụng, thống nhất khái niệm giữa pháp luật thuế và đất đai, tránh chồng chéo nghĩa vụ tài chính...
Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng yêu cầu hoàn thiện Kế hoạch phòng, chống thiên tai quốc gia giai đoạn 2026-2030 theo hướng xác định rõ trách nhiệm, nâng cao chất lượng dự báo, cảnh báo và chủ động ứng phó với từng loại hình thiên tai, giảm thiểu thiệt hại về người và tài sản...
Thủ tướng Lê Minh Hưng nhấn mạnh yêu cầu điều tiết giá đất, giá nhà, ưu tiên phát triển nhà ở xã hội và nhà ở cho thuê, bảo đảm người dân có chỗ ở phù hợp. Việc sửa đổi đồng bộ ba luật về đất đai, nhà ở và kinh doanh bất động sản phải tháo gỡ vướng mắc, khơi thông nguồn lực và kiểm soát đầu cơ.
Việc sửa đổi Luật Văn bản quy phạm pháp luật phải bảo đảm nâng cao chất lượng, tính ổn định và khả thi của hệ thống pháp luật, không đánh đổi chất lượng lấy tiến độ. Đồng thời, kiểm soát chặt chẽ thẩm quyền, làm rõ trách nhiệm trong xây dựng và thực thi pháp luật, bảo đảm lợi ích thiết thực của người dân và doanh nghiệp.
Thảo luận dự án Luật Trưng mua, trưng dụng tài sản (sửa đổi), các đại biểu Quốc hội đề nghị hoàn thiện cơ chế huy động tài sản trong tình huống cấp bách, đồng thời kiểm soát chặt chẽ thẩm quyền, bảo đảm bồi thường thỏa đáng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dân, doanh nghiệp.
Mời quý độc giả đón đọc Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 42-2026 phát hành ngày 19/10/2025 với nhiều chuyên mục hấp dẫn...
Các loại hình nhà ở người nước ngoài có thể tiếp cận; điều kiện giao dịch và hạn mức sở hữu tại từng dự án; những trở ngại khi mua, thuê hoặc bố trí chỗ ở cho chuyên gia… cùng những giải pháp tháo gỡ đã được đưa ra bàn thảo công khai.