
Chiều 28/9, Tổng thầu EPC Trung Quốc tiến hành chạy thử toa xe công trình trên một số đoạn tuyến đường sắt trên cao Cát Linh - Hà Đông (Hà Nội).
Ông Đường Hồng, Giám đốc điều hành dự án (Tổng thầu EPC) cho hay, tốc độ chạy thử toa xe từ 5km mỗi giờ để kiểm tra kết cấu hạ tầng đường sắt, đường ray, sau đó nâng lên tốc độ 10 đến 20km mỗi giờ.
Đại diện Ban Quản lý dự án Đường sắt cho biết thêm, đây là hai toa xe diezel tự vận hành trên đường sắt đô thị, để kiểm tra kết cấu hạ tầng và sau này phục vụ cho công tác kéo toa xe chuyên chở vật tư cho công tác sửa chữa, duy tu đường sắt sau này.
Nếu dự án không gặp trở ngại thì đến 1/4/2018 sẽ vận hành thử tàu chính thức trên toàn tuyến. Tàu Cát Linh - Hà Đông có thể khai thác thương mại sau đó sáu tháng tùy theo kết quả vận hành.
Tại cuộc kiểm tra toàn tuyến mới đây, Thứ trưởng Bộ Giao thông Vận tải Nguyễn Ngọc Đông yêu cầu Tổng thầu EPC phải đảm bảo tiến độ dự án theo như đã cam kết, không thể để tình trạng hạng mục nào cũng dở dang nhưng lại không thi công.
Dự án đường sắt Cát Linh - Hà Đông vẫn đang gặp khó khăn do việc giải ngân 250 triệu USD bổ sung bị chậm trễ.
Ông Lê Kim Thành, Cục trưởng Cục Quản lý Xây dựng và Chất lượng công trình giao thông, cho biết, hiệp định vay bổ sung 250 triệu USD đã được ký kết ngày 11/5. Để hoàn thiện các thủ tục hiệu lực cho khoản vay, Bộ Tài chính đã gửi Bộ Tư pháp thư của Ngân hàng Xuất nhập khẩu Trung Quốc đề nghị phía Việt Nam cho ý kiến đối với mẫu ý kiến pháp lý.
Bộ Giao thông Vận tải sau đó cũng đã có văn bản gửi Bộ Tài chính hỗ trợ các thủ tục cho khoản vay bổ sung này. Bộ Tư Pháp và China Eximbank đã họp tuy nhiên các bên vẫn chưa thống nhất ý kiến.
Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải Trương Quang Nghĩa nhấn mạnh: “Việc chậm giải ngân phần thiệt thòi sẽ là tổng thầu Trung Quốc chứ không phải Việt Nam”.
Dự kiến, quý 2/2018 dự án đường sắt trên cao Cát Linh - Hà Đông sẽ đưa vào khai thác thương mại. Tuy nhiên, với những gì đang diễn ra, dự án khó có thể xong đúng tiến độ vào tháng 10 tới.
Muốn trở thành một quốc gia biển mạnh, Việt Nam không chỉ cần khai thác tốt hơn các nguồn lực từ biển mà còn phải từng bước làm chủ năng lực thiết kế, chế tạo, vận hành và cung cấp công nghệ cho các hoạt động trên biển.
Trong nhiều thập niên đã qua, lợi thế của du lịch biển thường được đo bằng số lượng bãi tắm đẹp hay lượng khách đến mỗi năm. Trong xu thế du lịch ngày càng cạnh tranh, những lợi thế ấy chỉ là điều kiện ban đầu.
Trong tiến trình chuyển dịch năng lượng, dầu khí Việt Nam đang đứng trước một bước ngoặt lớn: giá trị của ngành không còn chỉ được đo bằng sản lượng dầu, khí khai thác được từ lòng biển, mà ngày càng nằm ở năng lực khảo sát, thiết kế, chế tạo, lắp đặt, vận hành, bảo dưỡng, logistics, quản trị an toàn và làm chủ các công trình ngoài khơi. Nếu được nhìn nhận như một nền tảng công nghiệp và công nghệ, những năng lực được tích lũy qua nhiều thập kỷ có thể trở thành bệ phóng để Việt Nam bước vào các chuỗi giá trị mới.
Việt Nam đang sở hữu nguồn lợi hải sản và tài nguyên sinh học biển phong phú, từ nguồn gen, vi sinh vật, rong biển, vi tảo đến lượng lớn thủy sản. Tuy nhiên, lợi thế về sinh khối mới chỉ là điểm khởi đầu. Giá trị lớn hơn nằm ở khả năng phát hiện các hợp chất có hoạt tính sinh học, giải mã cơ chế, phát triển sản phẩm, làm chủ công nghệ tinh chế, tạo tài sản trí tuệ và đưa kết quả nghiên cứu ra thị trường.
Với đường bờ biển dài, nằm gần các tuyến hàng hải quốc tế quan trọng và là một trong những nền kinh tế có độ mở thương mại cao, Việt Nam đứng trước cơ hội lớn để nâng tầm vị thế trong mạng lưới hàng hải và logistics khu vực. Tuy nhiên, cạnh tranh hàng hải hiện nay đang chuyển sang cuộc đua về chất lượng dịch vụ rất mạnh mẽ. Do đó, Việt Nam cần phải hình thành một hệ sinh thái hàng hải đủ mạnh để chuyển hóa lợi thế vị trí địa lý thành năng lực hàng hải thực sự.
Việt Nam luôn cần vốn ngoại để mở xưởng, tạo việc làm, thúc đẩy xuất khẩu và kết nối toàn cầu. Bước sang năm 2026, khi vị thế kinh tế đã khác, thu hút FDI của Việt Nam đòi hỏi chuẩn mực khắt khe hơn: phải xanh, số hóa, công nghệ cao, có sức lan tỏa và giúp Việt Nam từng bước làm chủ, tiến tới sở hữu công nghệ gốc.
Cận thị bệnh lý (cận thị thoái hóa/cận thị ác tính) là dạng cận thị nghiêm trọng và nguy hiểm nhất. Khác với cận thị thông thường, bệnh liên quan đến sự kéo dài bất thường và liên tục của trục nhãn cầu, dẫn đến các tổn thương cấu trúc ở đáy mắt và có nguy cơ cao gây mù lòa.