Năm 2023, Hải Phòng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đạt gần 3,5 tỷ USD, trở thành địa phương đứng thứ hai toàn quốc về thu hút vốn đầu tư FDI. Phải chăng quan điểm phát triển công nghiệp công nghệ cao đã giúp Hải Phòng có được thành tích này, thưa ông?
Năm 2023, Hải Phòng thu hút được 78 dự án vốn FDI với tổng vốn đầu tư 1,5 tỷ USD, điều chỉnh tăng vốn đầu tư 1,946 tỷ USD tại 46 dự án FDI đầu tư trước đó, đưa tổng vốn thu hút đầu tư FDI trong năm đạt 3,446 tỷ USD, trở thành địa phương đứng thứ 2 toàn quốc (sau TP.HCM) về thu hút vốn đầu tư FDI. Đến nay, Hải Phòng đã thu hút 532 dự án vốn đầu tư FDI với tổng vốn đầu tư 27,6 tỷ USD.
Năm 2023, Khu kinh tế Hải Phòng cũng thu hút 16 dự án mới có vốn đầu tư trong nước tại các khu công nghiệp, khu kinh tế với tổng vốn đầu tư 24.303 tỷ đồng, cùng 15 dự án điều chỉnh tăng thêm 927 tỷ đồng, đưa tổng vốn đầu tư trong nước tại các khu công nghiệp, khu kinh tế đạt 25.230 tỷ đồng.
Chúng tôi ưu tiên thu hút đầu tư vào các lĩnh vực công nghệ cao, ứng dụng công nghệ với quan điểm đồng hành cùng doanh nghiệp, bảo đảm môi trường đầu tư an toàn, đôi bên cùng có lợi theo đúng phương châm của Bí thư Thành uỷ Hải Phòng Lê Tiến Châu: "Sự thành công của doanh nghiệp chính là sự thành công của Hải Phòng”. Vì thế, chúng tôi đã thu hút được nhiều nhà đầu tư đến với Hải Phòng.
Hải Phòng được đánh giá có nhiều tiềm năng, lợi thế về thu hút vốn đầu tư trong nước và quốc tế. Có phải một trong những lợi thế đó là Hải Phòng luôn tạo sẵn mặt bằng để “lót ổ đón đại bàng”, thưa ông?
Hải Phòng có Khu kinh tế Đình Vũ – Cát Hải với tổng diện tích 22.540 ha. Trong đó có 9 khu công nghiệp ở trong khu và 5 khu công nghiệp ở ngoài khu với tổng diện tích 6.200 ha đất công nghiệp đã được đầu tư đồng bộ hạ tầng kỹ thuật.
Ngoài ra, trong năm 2023, Hải Phòng được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chủ trương đầu tư Khu công nghiệp và Khu phi thuế quan Xuân Cầu (725 ha), Khu công nghiệp Tiên Thanh (410 ha).
Ban quản lý Khu kinh tế đang phối hợp chặt chẽ cùng nhà đầu tư, cơ quan chức năng, chính quyền địa phương đẩy nhanh tiến độ xây dựng hạ tầng hai khu công nghiệp vừa được phê duyệt. Theo kế hoạch, đến năm 2024 – 2025, hai khu công nghiệp này sẽ đi vào hoạt động, cung ứng cho thị trường hơn 1.000 ha đất công nghiệp.
Dự kiến, trong giai đoạn tới, Hải Phòng sẽ triển khai xây dựng thêm 13 khu công nghiệp mới với tổng diện tích gần 5.000 ha. Trong đó, có 4 khu công nghiệp gồm Nam Tràng Cát, Thủy Nguyên, Tràng Duệ 3 và Giang Biên với tổng diện tích hơn 1.383 ha đã nộp hồ sơ tại Bộ Kế hoạch và Đầu tư đề nghị chấp thuận chủ trương đầu tư. 9 khu công nghiệp còn lại với tổng diện tích 3.505 ha đang thực hiện các bước chuẩn bị đầu tư theo quy định.
Đây là những tiềm năng, lợi thế để Hải Phòng tăng tốc thu hút vốn đầu tư FDI và đầu tư trong nước.
Bên cạnh đó, Hải Phòng đang đẩy mạnh xây dựng cơ sở hạ tầng như đê biển Nam Đình Vũ, các đường kết nối nội khu nhằm hoàn thiện hạ tầng trong khu kinh tế Đình Vũ – Cát Hải. Các khu công nghiệp của Hải Phòng có tỷ lệ lấp đầy đạt 65%, tỷ suất đầu tư đạt khoảng 12 triệu USD/ha.
Phải chăng việc đầu tư vào hạ tầng, tạo ra hệ thống hạ tầng giao thông với đầy đủ 5 phương thức vận tải là hướng đi giúp Hải Phòng phát huy tốt được những tiềm năng của mình, thưa ông?
Hải Phòng có lợi thế lớn về hạ tầng giao thông, logistics. Chúng tôi là địa phương duy nhất trong khu vực phía Bắc hội tụ đầy đủ 5 phương thức vận tải, bao gồm đường bộ (gồm cả đường cao tốc Hà Nội – Hải Phòng kết nối với các tuyến cao tốc Hải Phòng – Hạ Long – Móng Cái, Hà Nội – Lào Cai), đường sắt, đường hàng không, đường biển và đường thủy nội địa.
Hệ thống cảng biển của Hải Phòng chiếm tới 17,5% số cảng biển Việt Nam, chiếm 73% cảng biển vùng Đồng bằng sông Hồng, các bến số 1 và số 2 tại cảng nước sâu Lạch Huyện có thể đón tàu hơn 130.000 tấn để đưa hàng hóa xuất nhập khẩu từ Hải Phòng đến tất cả các cảng biển quốc tế.
Tốc độ tăng trưởng dịch vụ logistics của Hải Phòng khoảng 20-23%/năm, đóng góp từ 13-15% GRDP của thành phố, có nhiều tập đoàn logistics đa quốc gia như DHL, UPS, FedEX tham gia thị trường logistics trong nước và quốc tế.
Các khu công nghiệp trong Khu kinh tế Đình Vũ – Cát Hải được xây dựng dựa trên nền tảng logistics gắn với chuỗi logistics miền Bắc, gắn liền hệ thống cảng biển. Cùng với đó, Hải Phòng thực hiện tốt việc cải cách thủ tục hành chính, thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao từ các trường đại học trên địa bàn và khu vực. Đây chính là những cơ hội để các nhà đầu tư đến với thành phố.
Thời gian tới, Ban quản lý Khu kinh tế Hải Phòng có định hướng như thế nào để thu hút mạnh mẽ hơn nữa nhà đầu tư đến với Hải Phòng?
Chúng tôi xác định thu hút đầu tư dựa trên ba trụ cột nền kinh tế, đó là công nghiệp công nghệ cao, cảng biển–logistics và du lịch - thương mại. Trong đó, lĩnh vực cảng biển–logistics được ưu tiên hàng đầu, Ban quản lý Khu kinh tế đang đồng hành cùng nhà đầu tư triển khai các thủ tục đầu tư, đất đai, xây dựng và các thủ tục liên quan để hoàn thành đưa vào khai thác các bến cảng nước sâu số 3, 4, 5, 6 tại Cảng cửa ngõ quốc tế Lạch Huyện trong năm 2024.
Đồng thời, đề nghị Thủ tướng Chính phủ chấp thuận nhà đầu tư các bến số 7 và số 8 sau khi được chấp thuận chủ trương đầu tư. Hải Phòng cũng đang trình cơ quan có thẩm quyền chấp thuận chủ trương đầu tư các bến số 9, 10, 11, 12 Cảng cửa ngõ quốc tế Lạch Huyện. Các bến cảng nước sâu Lạch Huyện trong Khu kinh tế sau khi đi vào hoạt động sẽ là khu vực trung chuyển hàng hóa quan trọng của cả khu vực miền Bắc.
Ban quản lý Khu kinh tế đang phối hợp cùng các cơ quan liên quan xúc tiến thành lập khu phi thuế quan trong Khu kinh tế Đình Vũ – Cát Hải. Khu công nghiệp và Khu phi thuế quan Xuân Cầu với diện tích 752 ha đang được nhà đầu tư xây dựng hứa hẹn là mô hình phát triển, có sức hấp dẫn nhà đầu tư.
Nhằm mở rộng không gian phát triển công nghiệp tạo ra mạng lưới công nghiệp, đô thị thông minh, dịch vụ du lịch hiện đại, Hải Phòng có chủ trương thành lập Khu kinh tế ven biển phía Nam. Vậy, chủ trương này đang được thực hiện như thế nào, thưa ông?
Trước yêu cầu phát triển, mở rộng không gian phát triển kinh tế, thành phố đã giao Ban quản lý Khu kinh tế chủ trì, cùng các ngành liên quan nghiên cứu, lập quy hoạch Khu kinh tế ven biển phía Nam Hải Phòng để mở rộng không gian kinh tế. Hạt nhân của quy hoạch là Sân bay quốc tế Tiên Lãng, Cảng Nam Đồ Sơn, những quy hoạch ngành đã được phê duyệt, dự kiến thực hiện sau năm 2030.
Ban quản lý Khu kinh tế đã cùng cơ quan tư vấn khảo sát, dự kiến quy hoạch tổng thể Khu kinh tế ven biển phía Nam rộng khoảng 20.000 ha, định hướng xây dựng vùng đất chủ yếu là nông nghiệp trở thành khu kinh tế sinh thái, tuần hoàn, năng động và bền vững. Nơi đây sẽ trở thành trung tâm kết nối đa phương thức, mạng lưới công nghiệp thông minh, hệ thống đô thị - dịch vụ hiện đại, năng động, trong khi vẫn tôn trọng bản sắc văn hóa và kết nối với các khu vực hiện hữu.
Quy hoạch Khu kinh tế phía Nam phù hợp với quy hoạch chung của Thành phố Hải Phòng đến năm 2040; trong đó, Cảng Nam Đồ Sơn và Sân bay quốc tế Tiên Lãng, các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu đô thị mới, khu dân cư bản địa là động lực phát triển của Khu kinh tế phía Nam. Khu kinh tế ven biển phía Nam dự kiến sẽ mời gọi các nhà đầu tư các lĩnh vực logistics, phát triển công nghiệp công nghệ cao. Đặc biệt, tại Khu kinh tế phía Nam sẽ tập trung xây dựng khu thương mại tự do.
Trước yêu cầu phát triển khu kinh tế, Ban quản lý Khu kinh tế Hải Phòng sẽ phối hợp cùng các ngành chức năng, đơn vị tư vấn và cơ quan nhà nước có thẩm quyền để đưa quy hoạch Khu kinh tế ven biển vào quy hoạch Hải Phòng thời kỳ 2021- 2030, tầm nhìn đến năm 2050. Việc lập quy hoạch Khu kinh tế ven biển phía Nam là nhiệm vụ trọng tâm của Ban quản lý Khu kinh tế, dự kiến sẽ hoàn thành trong năm 2024.
VnEconomy 08/02/2024 14:00
Nội dung đầy đủ của bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 7 8-2024 phát hành ngày 12-25/02/2024. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
https://postenp.phaha.vn/chi-tiet-toa-soan/tap-chi-kinh-te-viet-nam




Đồng bằng sông Hồng đang đứng trước yêu cầu tổ chức lại nền nông nghiệp trong bối cảnh lao động ngày càng thiếu hụt, trong khi nhu cầu về thực phẩm an toàn, dinh dưỡng và chất lượng ngày càng gia tăng. Phát triển nông nghiệp sinh thái vì thế không chỉ là thay đổi kỹ thuật canh tác, mà còn đòi hỏi đổi mới cách tổ chức sản xuất, kết nối thị trường và quản trị tài nguyên, qua đó gia tăng giá trị từ cùng một hệ sinh thái.
Nhân dịp Ngày Chuyển đổi số quốc gia (10/10) và Ngày Công dân số Việt Nam (15/10), trao đổi với Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, ông Nguyễn Thanh Hòa, Phó Giám đốc Trung tâm Chuyển đổi số TP. Hồ Chí Minh, chia sẻ về những bước tiến trong chuyển đổi số, phát triển hạ tầng, tạo lập, khai thác dữ liệu và các định hướng mới của thành phố. Trong đó, việc đồng bộ dữ liệu được xác định là nền tảng để các dịch vụ số ngày càng thuận tiện, thiết thực hơn và người dân là đối tượng trực tiếp được hưởng lợi.
Trải qua hơn bảy thập kỷ kể từ ngày tiếp quản Thủ đô năm 1954, công nghiệp Hà Nội từng bước phát triển, trở thành một trụ cột quan trọng của nền kinh tế. Bước vào năm 2026, sản xuất công nghiệp tiếp tục ghi nhận tín hiệu tích cực khi tăng trưởng 9 tháng đạt mức cao nhất trong gần một thập kỷ, góp phần thúc đẩy phục hồi và tăng trưởng kinh tế Thủ đô.
Nông thôn đã đi một quãng dài từ chuyện đủ ăn, có điện, có đường, có trường, có trạm. Trên nền ấy, một lớp thay đổi khác đang hình thành: cánh đồng được quản trị bằng dữ liệu, phụ phẩm trở thành đầu vào mới, sản vật quê nhà có thương hiệu, có mã truy xuất, có thể bán qua một chiếc điện thoại. Nông nghiệp xanh và nông thôn thông minh gặp nhau ở những việc rất gần với người dân: làm ra nhiều giá trị hơn trên đất cũ, giảm phần phải bỏ đi, giữ môi trường sống và tiếp cận thị trường thuận lợi hơn.
Bắc Trung Bộ từng được biết đến là một trong những dải đất gặp nhiều khó khăn nhất Việt Nam do địa hình dẹp ngang, thiên tai khắc nghiệt và chịu ảnh hưởng nặng nề bởi dấu tích chiến tranh. Nhưng hôm nay, chính những yếu tố từng bị xem là bất lợi đang được đánh giá lại. Biển mở ra không gian kinh tế, Trường Sơn nối với các hành lang giao thương, còn cao tốc rút ngắn khoảng cách, tiết giảm chi phí logistics, tăng sức cạnh tranh của nền kinh tế. Tài nguyên tự nó chưa tạo nên lợi thế. Giá trị xuất hiện khi con người biết tổ chức, kết nối và sử dụng tài nguyên đúng cách.
Giới chuyên gia đánh giá năm 2026 là thời điểm bản lề đối với thị trường bất động sản nghỉ dưỡng. Việc Nhà nước đang đẩy mạnh cải cách thể chế, chính sách để tháo gỡ rào cản về visa, thị thực, thời hạn… sẽ tạo ra các cơ hội, sức hút tốt cho khách du lịch.
Theo số liệu từ Bộ Xây dựng, cả nước có khoảng 6.188 căn nhà do tổ chức, cá nhân nước ngoài sở hữu và đã được cấp Giấy chứng nhận; riêng từ khi Luật Nhà ở 2023 có hiệu lực, ghi nhận 1.519 căn hộ chung cư. Thực tế này đặt ra vấn đề tổ chức thị trường chỗ ở như thế nào để đáp ứng đúng nhu cầu, bảo đảm quyền hợp pháp và nâng cao sức cạnh tranh của đô thị.