Theo số liệu vừa được Tổng cục Hải quan công bố, tổng trị giá xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam trong kỳ 1 tháng 02/2022 (từ ngày 01/02 đến ngày 15/02/2022) đạt 21,41 tỷ USD, giảm 33,8% (tương ứng giảm 10,92 tỷ USD) so với kết quả thực hiện trong nửa cuối tháng 01/2022, chủ yếu do rơi vào kỳ nghỉ Tết.
Kết quả đạt được trong nửa đầu tháng 02/2022 đã đưa tổng trị giá xuất nhập khẩu của cả nước đến hết ngày 15/02/2022 đạt 81,69 tỷ USD, tăng 9,8%, tương ứng tăng 7,3 tỷ USD về số tuyệt đối so với cùng kỳ năm 2021.
Trong đó, tổng trị giá xuất nhập khẩu của doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đạt 56,91 tỷ USD, tăng 6,9% (tương ứng tăng tới 3,7 tỷ USD); trị giá xuất nhập khẩu của khối doanh nghiệp trong nước là 24,78 tỷ USD, tăng 17% (tương ứng tăng 3,59 tỷ USD) so với cùng kỳ năm 2021.
Như vậy, trong kỳ 1 tháng 02/2022, cán cân thương mại hàng hóa thâm hụt 3,9 tỷ USD. Tính từ đầu năm đến hết ngày 15/02/2022, cán cân thương mại hàng hóa thâm hụt 2,53 tỷ USD.
Tổng trị giá hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam trong kỳ 1 tháng 02/2022 đạt 8,75 tỷ USD, giảm 50,5% (tương ứng giảm 8,93 tỷ USD về số tuyệt đối) so với kỳ 2 tháng 01/2022.
Trị giá xuất khẩu kỳ 1 tháng 02/2022 giảm so với kỳ 2 tháng 01/2022 ở một số nhóm hàng sau: hàng dệt may giảm 1,41 tỷ USD, tương ứng giảm 67,3%; máy móc thiết bị dụng cụ & phụ tùng giảm 1,1 tỷ USD, tương ứng giảm 51,1%; điện thoại các loại và linh kiện giảm 1,01 tỷ USD, tương ứng giảm 38,3%; máy vi tính, sản phẩm điện tử & linh kiện giảm 875 triệu USD, tương ứng giảm 35,2%;...
Như vậy, tính đến hết 15/02/2022, tổng trị giá xuất khẩu của Việt Nam đạt 39,58 tỷ USD, tăng 2,7% tương ứng tăng 1,03 tỷ USD so với cùng kỳ năm 2021.
Một số nhóm hàng tăng so với cùng kỳ năm trước như: hàng dệt may tăng 478 triệu USD, tương ứng tăng 12,7%; hàng thủy sản tăng 269 triệu USD, tương ứng tăng 33,5%; sắt thép các loại tăng 240 triệu USD, tương ứng tăng 30,9%...
Bên cạnh đó có một số nhóm hàng giảm như điện thoại các loại & linh kiện giảm 1,7 tỷ USD, tương ứng giảm 21,7%; giày dép các loại giảm 93 triệu USD, tương ứng giảm 3,7%...
Số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan cũng cho thấy trị giá xuất khẩu hàng hóa của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trong kỳ 1 tháng 02/2022 đạt 6,71 tỷ USD, giảm 47,7%, tương ứng giảm 6,11 tỷ USD so với kỳ 2 tháng 01/2022.
Tính đến hết ngày 15/02/2022, tổng trị giá xuất khẩu hàng hóa của nhóm các doanh nghiệp này đạt 28,77 tỷ USD, giảm 1,3%, tương ứng giảm 367 triệu USD so với cùng kỳ năm trước, chiếm 72,7% tổng trị giá xuất khẩu của cả nước.
Tổng trị giá hàng hoá nhập khẩu của Việt Nam trong kỳ 1 tháng 02/2022 đạt 12,66 tỷ USD, giảm 13,6% (tương ứng giảm gần 2 tỷ USD về số tuyệt đối) so với kết quả thực hiện trong nửa cuối tháng 01/2022.
Trị giá nhập khẩu hàng hóa trong kỳ 1 tháng 02/2022 giảm so với kỳ 2 tháng 01/2022 chủ yếu ở một số nhóm hàng sau: máy móc, thiết bị, dụng cụ & phụ tùng giảm 373 triệu USD, tương ứng giảm 19,3%; điện thoại các loại và linh kiện giảm 248 triệu USD, tương ứng giảm 23,1%; máy vi tính sản phẩm điện tử và linh kiện giảm 240 triệu USD, tương ứng giảm 6,7%...
Như vậy, tính đến hết 15/02/2022, tổng trị giá nhập khẩu của cả nước đạt 42,11 tỷ USD, tăng 17,5% (tương ứng tăng 6,27 tỷ USD) so với cùng kỳ năm 2021.
Một số nhóm hàng tăng so với cùng kỳ năm trước như: máy vi tính, sản phẩm điện tử & linh kiện tăng gần 2,4 tỷ USD, tương ứng tăng 29,7%; vải các loại tăng 533 triệu USD, tương ứng tăng 36,8%; sắt thép các loại tăng 426 triệu USD, tương ứng tăng 37%; hóa chất tăng 327 triệu USD, tương ứng tăng 42,8%...
Trị giá nhập khẩu hàng hóa của các doanh nghiệp FDI trong kỳ 1 tháng 02/2022 đạt 8,65 tỷ USD, giảm 11,4% (tương ứng giảm 1,1 tỷ USD) so với kỳ 2 tháng 01/2022. Tính đến hết ngày 15/02/2022, tổng trị giá nhập khẩu của nhóm các doanh nghiệp này đạt 28,14 tỷ USD, tăng 16,9% (tương ứng tăng 4,1 tỷ USD) so với cùng kỳ năm 2020, chiếm 66,8% tổng trị giá nhập khẩu của cả nước.
Mục tiêu tăng trưởng hai con số không thể đạt được bằng cách dàn hàng ngang các nguồn lực, mà phải bằng những chính sách vi mô thực sự đột phá. Giải phóng năng lực công nghệ AI, nâng tầm thể chế thử nghiệm đặc khu kinh tế, tháo gỡ điểm nghẽn dòng vốn tín dụng và thiết lập hệ thống thuế số minh bạch chính là những bệ phóng vững chắc nhất để đưa nền kinh tế Việt Nam cất cánh trong kỷ nguyên mới…
Mục tiêu xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt 100 tỷ USD không chỉ đòi hỏi tăng kim ngạch, mà còn kiểm chứng khả năng chuyển các Nghị quyết về thể chế, công nghệ... thành năng lực cạnh tranh.
Sự hiện diện của ESFLO MKTING, S.A. de C.V. tại VIS 2026 cho thấy Việt Nam đang trở thành điểm đến ưu tiên của các nhà nhập khẩu Mexico, trong bối cảnh thương mại song phương tăng trưởng mạnh nhờ Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP)...
Đóng góp quan trọng nhất mà VIFC-HCMC có thể mang lại cho tăng trưởng kinh tế quốc gia không đơn thuần là thu hút thêm dòng vốn, mà trở thành nền tảng đáng tin cậy để dòng vốn khu vực và toàn cầu lưu chuyển qua đó...
Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang hoàn thiện dự thảo Nghị quyết của Chính phủ nhằm đơn giản hóa thủ tục cấp mã số vùng trồng và mã số cơ sở đóng gói theo hướng chuyển từ tiền kiểm sang quản lý bằng dữ liệu và hậu kiểm. Mục tiêu là rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ, giảm chi phí cho doanh nghiệp nhưng vẫn bảo đảm đáp ứng yêu cầu của các thị trường nhập khẩu...
Dưới tác động của biến đối khi hậu, tình trạng thời tiết, thiên tai diễn biến bất thường, cực đoan hơn, đòi hỏi công tác dự báo, cảnh báo sớm, giúp các ngành, địa phương và người dân chủ động ứng phó, giảm thiểu thiệt hại. Đặc biệt với các hiện tượng khí hậu như El Nino, ông Hoàng Đức Cường cho rằng khi nhận diện sớm nguy cơ, dự báo cảnh báo sớm sẽ giúp có thời gian chủ động lên kế hoạch sớm, có các giải pháp ứng phó, góp phần giảm thiểu ảnh hưởng, tác động đến hoạt động sản xuất và đời sống sinh hoạt của người dân.
Bức tranh tổng thể kinh tế năm 2026 cho thấy xu hướng chuyển dịch rõ rệt giữa khu vực Doanh nghiệp và Kinh tế cá thể. Ở khu vực Doanh nghiệp tăng trưởng nhanh về số lượng, thu hút và phát triển lực lượng lao động lớn thì ở khu vực Kinh tế cá thể tốc độ tăng quy mô lại có xu hướng chậm lại, tỷ trọng lao động có sự dịch chuyển.