Thưa Giáo sư, ông được đánh giá là một trong những người khai sinh ngành vật lý bán dẫn ở Việt Nam. Cơ duyên nào đã đưa ông đến với ngành bán dẫn?
Tôi bắt đầu nghiên cứu và đến với công nghiệp bán dẫn một cách rất tình cờ. Từ hồi còn trẻ, tôi là một người rất thích “chơi” radio. Một hôm, khi tôi đang sửa cái radio của mình, GS. Nguyễn Hoán (GS. Nguyễn Hoán (1916-1978) là một nhà hóa học, người đã đặt nền móng cho ngành Hóa học Việt Nam, từng là Chủ nhiệm đầu tiên của Khoa Hóa học Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội - nay là Đại học Khoa học Tự nhiên - Đại học Quốc gia Hà Nội - PV) đi ngang qua và hỏi: "Sao anh không dùng semiconductor?". Đó là lần đầu tiên trong đời tôi nghe đến từ "bán dẫn". Tôi thắc mắc không biết nó là gì.
Tôi bắt đầu tìm hiểu. Lúc bấy giờ, ở hiệu sách ngoại văn chỉ có duy nhất một quyển sách về bán dẫn, tên là "Transistor thật là đơn giản". Tôi mua về đọc và thấy vô cùng thích thú. Tôi liền nhờ bạn bè đang học ở Liên Xô mua giúp vài con transistor gửi về để tôi thử lắp ráp. Lúc đó, Việt Nam rất khuyến khích cán bộ trẻ nghiên cứu khoa học. Tôi lúc ấy là cán bộ trẻ mới ra trường được vài năm nên đã đăng ký báo cáo tại Hội nghị Khoa học lần thứ nhất của Trường Đại học Tổng hợp. Đề tài của tôi là "Hoạt động của transistor trong điều kiện nhiệt đới". GS. Tạ Quang Bửu đã chuyển cho tôi một mảnh giấy, viết rằng: “Vấn đề này rất quan trọng cho quốc phòng, đề nghị anh tiếp tục nghiên cứu”.
Bạn bè thắc mắc: "Linh kiện bán dẫn nằm trong hộp kín, làm sao mà nghiên cứu tác động của nhiệt độ, độ ẩm lên nó được?" Tôi nghĩ, vậy thì chỉ có một cách tự mình làm ra linh kiện bán dẫn để nghiên cứu. Thế là, song song với việc xây dựng bộ môn Vật lý Bán dẫn, tôi bắt đầu tìm tòi và chế tạo thành công transistor đầu tiên tại Việt Nam. Tôi cũng hướng dẫn sinh viên tập trung nghiên cứu về vật lý bán dẫn.
Sau khi Hiệp định Paris 1973 được ký kết, Nhà nước có chủ trương phát triển công nghệ bán dẫn. Tôi được cử đi cùng một đoàn khảo sát công nghệ bán dẫn ở nước ngoài, thăm các nhà máy và phòng thí nghiệm của Pháp. Tại đây, tôi thấy họ đã bắt đầu nghiên cứu các mạch tích hợp phức tạp, tiền thân của CPU máy tính, dù mới chỉ là các bản vẽ trên giấy.
Khoảng năm 1979, Việt Nam xây dựng Nhà máy Z181 – nhà máy bán dẫn đầu tiên của Việt Nam. Trước đó, tôi được cử sang Pháp thực tập khoa học 1,5 năm. Vị giáo sư phụ trách lúc đó nói rằng: "Việt Nam các anh thế nào cũng phải làm công nghệ bán dẫn. Vậy anh nên tập trung nghiên cứu về vấn đề này”.
Tôi tập trung vào giảng dạy và nghiên cứu trong nước về công nghệ bán dẫn. Tôi nhận thấy rằng mặc dù Nhà máy Z181 có dây chuyền khá đồng bộ cho công nghệ bán dẫn thời kỳ đó: từ kéo đơn tinh thể silicon, cắt lát và đánh bóng wafer, oxy hóa, quang khắc, khuếch tán tạp chất, đến lắp ráp và đóng gói, nhưng vẫn không thể tồn tại và phát triển được.
Lý do chính xuất phát từ cả yếu tố kỹ thuật lẫn thị trường. Chẳng hạn, về kỹ thuật, Nhà máy chưa đạt các tiêu chuẩn nghiêm ngặt cần thiết, như nước siêu sạch (nước máy lúc đó chứa nhiều tạp chất kim loại nặng) và phòng sạch (số lượng hạt bụi trong không khí vẫn quá cao, ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng nước). Quan trọng nhất là về thị trường, sản phẩm làm ra không thể cạnh tranh với hàng ngoại về cả chất lượng lẫn giá thành.
Trước thực tế năng lực sản xuất và vốn đầu tư cho lĩnh vực bán dẫn chưa đáp ứng được yêu cầu thị trường, tôi đã quyết định chuyển hướng sang một hoạt động khác, phù hợp với điều kiện và sở trường của mình hơn, đó là đào tạo và bồi dưỡng nhân tài cho ngành bán dẫn.
Giáo sư là người đã từng nhiều lần được giao nhiệm vụ lãnh đạo đội tuyển Việt Nam đi thi Olympic quốc tế, phát hiện và nuôi dưỡng nhân tài. Ông có thể chia sẻ trải nghiệm về những lần dẫn đoàn đi thi và hành trình đạt giải của Việt Nam?
Năm 1993, tôi nhận nhiệm vụ trưởng đoàn dẫn học sinh Việt Nam đi thi Olympic Vật lý quốc tế. Chuyến đi đầu tiên không đạt giải gì.
Lúc đó, một phóng viên nước ngoài đã đến phỏng vấn tôi ngay sau kỳ thi. Cô ấy hỏi: “Năm nay là năm đầu tiên ông dẫn đội tuyển Việt Nam tham dự Olympic Vật lý quốc tế. Vậy với kết quả đạt được, ông có cảm thấy hài lòng hay không?”.
Rõ ràng kết quả là chúng ta không đạt giải gì, nhưng họ lại hỏi “có hài lòng không”, giống như đang hỏi kháy chúng ta vậy (cười). Tôi đã trả lời rất thẳng thắn rằng tôi “hoàn toàn hài lòng”, bởi qua kỳ thi này, tôi hiểu rất rõ học sinh của mình đang yếu ở đâu, thiếu những gì.
Phóng viên tiếp tục đặt câu hỏi: “Việt Nam là một đất nước vừa bước ra khỏi chiến tranh, điều kiện còn nhiều thiếu thốn, không có đủ cơ sở vật chất cho học sinh học tập và thực hành, vậy làm thế nào để khắc phục điều đó?”. Tôi trả lời ngay rằng chúng tôi sẽ tự làm lấy thiết bị cho học sinh, để các em có thể học và thực hành bằng chính những dụng cụ do mình tạo ra.
Chỉ mấy câu nói ngắn gọn như vậy, nhưng khi trở về nước, tôi bỗng cảm thấy đó không còn là một câu trả lời mang tính ứng khẩu nữa, mà là một quyết tâm, một cam kết với đất nước.
Từ đó, tôi không chỉ nhận trách nhiệm dẫn dắt đội tuyển mà còn cùng một số đồng nghiệp trực tiếp hướng dẫn, huấn luyện học sinh, đồng thời tự tay thiết kế và chế tạo các thiết bị thí nghiệm phục vụ cho việc giảng dạy và đào tạo đội tuyển.
Sau ba năm, đoàn Việt Nam bắt đầu có huy chương. Đến năm thứ tư, năm thứ năm (tại Australia), đoàn Việt Nam giành được nhiều huy chương bạc đến mức các đoàn khác phải kinh ngạc và nghi ngờ.
Thi Olympic Vật lý là cuộc thi giữa các cá nhân và người thắng cuộc là người có điểm cao nhất. Trước đó, người thắng cuộc luôn là học sinh Trung Quốc, Nga, Đức, Mỹ... Đến năm thứ 10, lần đầu tiên học sinh Việt Nam đã giành vị trí cao nhất, với điểm số cao hơn thí sinh đứng thứ hai tới 2 điểm. Tôi thấy đó là một thành tích cao nhất có thể đạt được với cương vị lãnh đạo đoàn, nên tôi ngừng làm lãnh đạo đoàn và tập trung chuẩn bị cho kỳ thi Olympic Vật lý mà Việt Nam đăng cai.
Đó thực sự là kết quả của một hành trình đào tạo, học tập, nỗ lực vượt khó của thầy và trò. Vậy, phương pháp đào tạo hay những điểm mấu chốt nào đã giúp đội tuyển Việt Nam đạt kết quả vinh dự như vậy, thưa Giáo sư?
Phương pháp đào tạo của tôi xuất phát từ thực tế là chương trình vật lý phổ thông Việt Nam khi đó còn thấp so với thế giới, nặng về lý thuyết, ít thực hành, đặc biệt là các phần vật lý hiện đại. Đề thi Olympic thường rất khó, có bài tương đương với đề tài luận văn thạc sĩ.
Chúng tôi đã tập trung bồi dưỡng học sinh theo hướng nắm vững bản chất và phương pháp vật lý, hơn là học một cách máy móc. Chúng tôi tự tạo ra những bộ thí nghiệm đơn giản, thô sơ từ những vật liệu dễ kiếm để học sinh thực hành đo đạc các hằng số vật lý cơ bản.
Chúng tôi cố gắng tạo cho học sinh biết tiến hành nghiên cứu, thiết kế thí nghiệm trong điều kiện thiếu thốn, không có trang thiết bị chứ không chỉ học cách sử dụng thiết bị sẵn có. Thiết bị dùng cho kỳ thi vật lý quốc tế do Việt Nam đăng cai cũng được xây dựng theo tinh thần đó.
Không ít người trong đội tuyển, đạt giải nhưng sau đó lại dần bị mai một, không theo đuổi sự nghiệp. Điều này đặt ra bài toán nuôi dưỡng nhân tài. Giáo sư có thể chia sẻ về việc này?
Quả thật, từ thành công trong đào tạo học sinh phổ thông, tôi nhận thấy một vấn đề: những học sinh giỏi này sau đó thường không có điều kiện đi du học (do các điều kiện kinh tế, chính trị liên quan như Liên Xô tan rã, các suất học bổng ít đi…). Vì thế, tôi nghĩ cần có một tổ chức để tập hợp và đào tạo họ ở bậc cao hơn ngay tại Việt Nam. Tôi đã đề xuất với lãnh đạo Đại học Quốc gia ý tưởng thành lập một hệ đào tạo đặc biệt.
Ý tưởng này trùng với ý tưởng của lãnh đạo và hệ Cử nhân Khoa học Tài năng ra đời và tôi là Trưởng ban điều hành đầu tiên.
Hệ này tuyển chọn học sinh đạt giải quốc tế và giải nhất quốc gia. Họ được học bổng và theo học một chương trình thiết kế đặc biệt: học toán trình độ như sinh viên toán, học vật lý trình độ như sinh viên vật lý chuyên sâu... Học sinh học rất vất vả, nhưng sau này tất cả đều thừa nhận những kiến thức nền tảng đó giúp ích rất nhiều cho công việc sau này.
Sau hai năm đầu, các sinh viên Khoa học Tài năng cần phải học tập nghiên cứu nhưng ở trong nước không có đủ các phương tiện, vì thế tôi tìm cách gửi học sinh đi học ở nước ngoài. Qua mối quan hệ với các GS ở Trường Polytechnique của Pháp, đặc biệt là GS.Trương Nguyên Trân (École Polytechnique) (GS. Trương Nguyên Trân thường được gọi là "đại sứ Việt Nam ở Polytechnique" vì vai trò cầu nối, giới thiệu, giúp đỡ thế hệ trẻ Việt Nam tiếp cận giáo dục Pháp - PV), tôi đã giới thiệu được trên 50 sinh viên của Hệ Tài năng đi học, một số đã hoàn thành luận văn tiến sỹ tại Pháp. Đồng thời, tôi tìm cách mở rộng tuyển sinh cho Hệ đào tạo cử nhân khoa học tài năng. Vì quỹ học bổng không có nhiều, nên tôi đã đề nghị với GS. Trần Thanh Vân về vấn đề này và được giúp đỡ rất nhiều, tạo tiền đề để sau này hình thành học bổng Odon-Vallet cho học sinh các trường phổ thông.
Tôi cũng chủ động liên hệ với Viện JAIST (Nhật Bản) để đề nghị hỗ trợ đào tạo cao học và tiến sĩ cho các sinh viên tài năng, và nhận được sự hưởng ứng tích cực. Song song, tôi xin “học bổng 322” của Nhà nước (cách gọi tắt Đề án 322 - Quyết định số 322/QĐ-TTg năm 2000 của Thủ tướng Chính phủ, "Đề án đào tạo cán bộ khoa học kỹ thuật tại các cơ sở nước ngoài bằng ngân sách nhà nước" - PV).
Nhờ những nỗ lực đó, chúng tôi đã đào tạo được các tiến sĩ về khoa học công nghệ và vật lý. Nhiều người hiện đang công tác tại các trường đại học lớn (như Đại học Quốc gia, Đại học Bách khoa) và các viện nghiên cứu, phụ trách các phòng thí nghiệm trọng điểm.
Theo Giáo sư, làm thế nào để tránh lặp lại những sai lầm, lãng phí trong công tác đào tạo nhân lực khoa học – công nghệ?
Về vấn đề này, tôi biết từng có các đề xuất về dự án đào tạo nhân lực công nghệ điện tử với quy mô đầu tư lớn. Tuy nhiên, khi thông tin này được đưa ra, lập tức xuất hiện tình trạng nhiều nơi đồng loạt tuyên bố sẽ tham gia đào tạo kỹ sư, cán bộ công nghệ điện tử. Nhưng đó có thể chỉ là thông tin “ảo”, không phản ánh đúng năng lực thực tế. Bởi vì số người thực sự am hiểu sâu về lĩnh vực vô tuyến – điện tử ở Việt Nam không nhiều, thậm chí có những cơ sở đào tạo gần như không có đội ngũ chuyên môn phù hợp. Việc nhiều đơn vị cùng đăng ký tham gia chủ yếu nhằm “chia sẻ nguồn kinh phí”. Nhưng nếu nguồn lực này bị dàn trải cho nhiều trường, thì cuối cùng tiền đầu tư sẽ bị lãng phí, không tạo ra hiệu quả thực chất.
Tôi cho rằng để đào tạo được một thế hệ nhân lực chất lượng cao, trước tiên cần xác định rõ mình cần gì, sau đó mạnh dạn lựa chọn một trung tâm mạnh nhất, rồi tập trung cán bộ giỏi vào đó, dồn nguồn lực đầu tư, trang thiết bị. Các cơ sở khác thì có thể được phân bổ một phần kinh phí để đào tạo kiến thức nền tảng.
Bởi vì nếu đầu tư dàn trải, nơi nào cũng nhận là làm công nghệ điện tử trong khi thực chất không có năng lực, kết quả cuối cùng chỉ là tốn kém và không hiệu quả. Không có định hướng rõ ràng, không tập trung nguồn lực và gắn đào tạo với nhu cầu thực tế, việc đầu tư cho nhân lực và cơ sở nghiên cứu rất dễ rơi vào vòng luẩn quẩn: tốn kém, hình thức và cuối cùng là lãng phí.
Có ý kiến cho rằng Việt Nam khó có thể cạnh tranh trong lĩnh vực sản xuất bán dẫn thương mại quy mô lớn. Giáo sư nhìn nhận vấn đề này như thế nào? Đâu là những hướng đi phù hợp hơn với điều kiện và lợi thế của Việt Nam trong ngành bán dẫn?
Về triển vọng ngành bán dẫn Việt Nam trong bối cảnh hiện nay, chúng ta đã có nhiều cơ hội hơn nhờ quan hệ quốc tế rộng mở, có thể tiếp cận công nghệ mới. Tuy nhiên, thách thức vẫn còn rất lớn. Trong công nghệ bán dẫn, có những lĩnh vực đòi hỏi về thiết bị và vốn đầu tư cực lớn mà chúng ta không thể có được.
Thế mạnh của Việt Nam có lẽ không nằm ở việc cạnh tranh trong sản xuất linh kiện bán dẫn thương mại hàng loạt (vốn đòi hỏi vốn đầu tư khổng lồ và công nghệ luôn thay đổi), mà nên tập trung vào các hướng đi phù hợp hơn, ví dụ như khâu thiết kế, khâu đóng gói vi mạch. Đây là các khâu đòi hỏi công nghệ và kỹ thuật cao nhưng phù hợp với điều kiện hiện nay của Việt Nam, là hai mắt xích thực tế để Việt Nam tham gia sâu hơn vào ngành công nghiệp bán dẫn toàn cầu.
Điều quan trọng, tiên quyết để phát triển chip bán dẫn là Nhà nước phải có định hướng rõ ràng: làm chip để phục vụ mục tiêu gì. Không phải mọi loại chip đều cần công nghệ siêu tinh vi. Nhiều dòng chip có độ phức tạp vừa phải, như sử dụng trong xe máy, ô tô hay các thiết bị công nghiệp, hoàn toàn nằm trong khả năng triển khai, đồng thời có độ bền cao và ít rủi ro hỏng hóc hơn; hoặc phát triển các cảm biến (sensor) bán dẫn cho nông nghiệp, môi trường, y tế – những thị trường mà chúng ta có nhu cầu nội tại và có thể tận dụng lợi thế về nhân lực chất lượng cao được đào tạo bài bản.
Tôi lấy ví dụ, nếu Việt Nam làm được chip đo ô nhiễm không khí, thì có thể triển khai hàng loạt thiết bị quan trắc đặt khắp các đô thị. Khi đó, việc giám sát chất lượng không khí sẽ có ý nghĩa thực tiễn rất lớn, đúng với nhu cầu cấp bách hiện nay của Việt Nam. Khi có dữ liệu đo đạc rõ ràng, như chỉ số ô nhiễm, nồng độ CO2 hay các khí thải từ xe máy, Chính phủ có thể đưa ra các giải pháp quản lý phù hợp, hạn chế xe máy ở một số khu vực, đánh giá chính xác mức độ cải thiện chất lượng không khí theo thời gian.
Nếu chủ động làm được chip cảm biến, có thể đo các thông số môi trường cụ thể như vậy, sau đó tích hợp chúng vào mạch xử lý, chuyển đổi tín hiệu sang dạng số và kết nối với các thiết bị truyền dữ liệu như điện thoại hoặc mạng IoT để gửi về trung tâm, thì đó sẽ là một bước tiến rất lớn. Với hướng đi này, chip không cần phải quá nhỏ hay quá tinh vi; điều quan trọng là đáp ứng được nhu cầu ứng dụng thực tế.
Đây chính là giá trị cốt lõi của việc phát triển chip “đúng việc, đúng nhu cầu, đúng khả năng” trong điều kiện Việt Nam hiện nay. Còn nếu chạy đua sản xuất các dòng chip tiên tiến nhất trên thế giới thì hiện vẫn vượt quá khả năng sản xuất trong nước.
Trong câu chuyện đào tạo nhân tài, hiện tượng “chảy máu chất xám” vẫn luôn là vấn đề lớn. Vậy chúng ta phải làm sao để ngăn chặn “chảy máu chất xám” và phát huy tối đa năng lực của đội ngũ nhân tài được đào tạo?
Cần nhìn nhận vấn đề này đúng bản chất hơn, đó là khi gửi người giỏi ra nước ngoài đào tạo, giá trị lớn nhất mà họ mang về không nằm ở một kỹ năng cụ thể, mà ở năng lực làm việc, tư duy và phương pháp nghiên cứu.
"Chảy máu chất xám" cũng xuất phát từ việc chúng ta chưa có môi trường làm việc và đãi ngộ xứng đáng. Nhiều người giỏi đi học nước ngoài về nhưng không có đất dụng võ, không có thiết bị để nghiên cứu, hoặc mức lương không đủ sống nên họ buộc phải ra đi hoặc chuyển sang làm việc khác.
Hơn nữa, tạo điều kiện sống tốt cho đội ngũ khoa học là vô cùng quan trọng. Nhưng sự tôn trọng của xã hội đối với người tài cũng là một vấn đề mấu chốt. Không nhất thiết phải là mức lương quá cao, vì nếu ai chỉ thích tiền thì họ đã làm kinh doanh hoặc tiếp tục ở lại nước ngoài. Những người làm khoa học như tôi, dù thu nhập không nhiều, nhưng điều chúng tôi cần là sự trân trọng nghề nghiệp, trân trọng tri thức.
Thực ra bây giờ Nhà nước có chính sách trọng dụng người tài, nhưng trong xã hội nói chung thì đôi khi sự trân trọng ấy vẫn chưa thực sự sâu sắc. Vì thế, nói rộng ra là chúng ta cần xây dựng một xã hội biết trân trọng tri thức.
Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 7+8/2026 phát hành ngày 16-23/02/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-78-xuan-binh-ngo.html
18:14, 06/02/2026
Thuế đối ứng của Mỹ có ảnh hướng thế nào đến chứng khoán?
Chính sách thuế quan mới của Mỹ, đặc biệt với mức thuế đối ứng 20% áp dụng từ ngày 7/8/2025 (giảm từ 46% sau đàm phán), có tác động đáng kể đến kinh tế Việt Nam do sự phụ thuộc lớn vào xuất khẩu sang Mỹ (chiếm ~30% kim ngạch xuất khẩu). Dưới đây là phân tích ngắn gọn về các ảnh hưởng chính: