Trả lời câu hỏi của phóng viên về thực trạng “ế tiền” tại Họp báo Chính phủ thường kỳ ngày 4/7, ông Đào Minh Tú cho biết từ đầu năm đến nay, Ngân hàng Nhà nước đã hạ lãi suất 4 lần từ 0,5%-2% cho những mức lãi suất điều hành. Theo đó, lãi suất huy động bình quân trên thị trường tính đến hết tháng 6/2023 giảm từ 0,7-0,8% và lãi suất cho vay bình quân đã giảm từ 1-1,2%.
“Đặc biệt, nhiều ngân hàng có gói giảm rất sâu, dành cho những đối tượng, lĩnh vực cần có sự ưu đãi của Chính phủ và Nhà nước”, Phó Thống đốc khẳng định.
Đối với lãi suất điều hành của Ngân hàng Nhà nước, hiện nay cho vay theo nghiệp vụ thị trường mở chỉ có 4%, cho vay OMO hoặc cho vay để bù đắp thiếu hụt trong tính toán tạm thời của các ngân hàng thương mại, cho vay qua đêm chỉ 5%. Cho vay thông qua thị trường liên ngân hàng, cho vay qua đêm cũng từ 0,4-1%.
“Đây là mức có thể nói là rất thấp”, ông Tú nhấn mạnh.
Về dư nợ tín dụng, đến thời điểm này mới tăng 4,2%, số tuyệt đối là 12,423 triệu tỷ đồng. Tương đồng với đó là huy động tăng khoảng 4,16% với số tiền gửi huy động là 12,69 triệu tỷ đồng. Điều này cho thấy thanh khoản của các ngân hàng thương mại đang thừa.
Tuy nhiên, thực tế hiện nay cho thấy tín dụng lại tăng chậm hơn so với tốc độ giảm của lãi suất. Theo ông Đào Minh Tú, có 3 nguyên nhân chính.
Thứ nhất, tình hình nền kinh tế đang có nhiều khó khăn, suy giảm về cầu đầu tư và cầu tiêu dùng. Điều này khiến cầu tín dụng không thể tăng cao.
Thứ hai, sản xuất kinh doanh của nhiều doanh nghiệp khó khăn do không có đơn hàng trong nước cũng như xuất khẩu, tồn kho nhiều. Trong khi đó, thị trường bất động sản chưa sôi động trở lại, nhiều dự án chưa triển khai được, kể cả những dự án bất động sản thương mại và bất động sản nhà ở xã hội cho dù các Ngân hàng Nhà nước tạo điều kiện về tín dụng cho lĩnh vực bất động sản, sẵn sàng đẩy mạnh những lĩnh vực tỉ lệ rủi ro thấp.
Thứ ba, những doanh nghiệp nhỏ và vừa đang khó tiếp cận tín dụng. Trước đây doanh nghiệp khó về năng lực tài chính để đảm bảo vay phải có khả năng trả nợ, đến nay càng khó hơn. Vấn đề này, Chính phủ, các bộ, ngành, các hiệp hội, các doanh nghiệp nhỏ và vừa, ngành ngân hàng đang quyết liệt tháo gỡ. Hiện nay có nhiều doanh nghiệp muốn vay nhưng không chứng minh được có thể trả nợ được không. Ngược lại, có doanh nghiệp, ngân hàng mời chào vay nhưng lại chưa có nhu cầu vay.
“Đây chính là những nguyên nhân trực tiếp tạo ra những “khác thường” so với những năm trước cho dù lãi suất đã giảm mà tín dụng chưa tăng nhanh”, Phó Thống đốc lý giải.
Tuy nhiên, cùng với đồng loạt các chính sách khác mà Chính phủ đang triển khai, lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước cho biết thời gian tới ngành ngân hàng đặt ra yêu cầu phải quản lý tốt, tập trung tăng cường hơn nữa để lãi suất tiếp tục giảm nhằm tạo điều kiện cho doanh nghiệp trên cơ sở các ngân hàng thương mại phải tính toán bảo đảm được an toàn tối thiểu cho mình và cắt giảm những chi phí cần thiết có điều kiện hạ lãi suất, cũng như cắt giảm các loại phí.
Bên cạnh đó, tăng cường cải cách thủ tục hành chính nhằm tháo gỡ nhiều nội dung, đặc biệt ứng dụng công nghệ số nên đã tạo điều kiện cho cả doanh nghiệp và ngân hàng tiếp cận tín dụng nhanh hơn, thuận lợi hơn.
Tiếp tục xem xét các đối tượng, lĩnh vực để cùng với các bộ, ngành có những chính sách đồng bộ. Chính sách giãn, hoãn, tái cơ cấu các khoản nợ sẽ tiếp tục được tăng cường cũng như chỉ đạo các ngân hàng thương mại, các hiệp hội quan tâm triển khai tốt.
“Đây là những chính sách rất trực tiếp hỗ trợ cho doanh nghiệp, tháo gỡ cho doanh nghiệp hiện nay”, ông Tú nhấn mạnh.
Bà Mariam J. Sherman, Giám đốc Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam, Campuchia và CHDCND Lào, cho rằng cần xây dựng chính sách hướng tới nâng xếp hạng tín nhiệm quốc gia lên mức đầu tư, giúp giảm chi phí vay không chỉ cho Nhà nước mà cả những doanh nghiệp Việt Nam chịu ảnh hưởng từ xếp hạng tín nhiệm quốc gia.
TP. Hồ Chí Minh đã thu hút 17,8 tỷ USD vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trong 9 tháng đầu năm 2026, gấp 4,2 lần so với cùng kỳ năm 2025 và vượt 162,4% kế hoạch năm…
Việc R&I lần đầu đưa Việt Nam vào nhóm xếp hạng tín nhiệm Đầu tư là một cột mốc về uy tín tín dụng quốc gia. Quan trọng hơn, kết quả này tạo thêm một điểm tựa để Việt Nam mở rộng khả năng tiếp cận thị trường vốn Nhật Bản, trong đó có việc nghiên cứu phát hành trái phiếu Samurai, đồng thời tiếp tục thu hẹp khoảng cách với xếp hạng Đầu tư của ba tổ chức S&P, Fitch và Moody’s.
Để làm chủ ngành đường sắt, Việt Nam không nhất thiết phải tự làm tất cả, nhưng cần từng bước làm chủ tiêu chuẩn, công nghệ, năng lực kỹ thuật và khả năng phối hợp các hệ thống phức tạp. Mỗi dự án, vì thế, cần trở thành một lần tích lũy năng lực cho những dự án tiếp theo...
Việt Nam sẽ không cạnh tranh thu hút vốn đầu tư nước ngoài (FDI) bằng mọi giá hay thuần túy dựa trên số lượng, thay vào đó là kiến tạo một hệ sinh thái đầu tư chất lượng cao, gắn kết chặt chẽ với nội lực nền kinh tế…
Giới chuyên gia đánh giá năm 2026 là thời điểm bản lề đối với thị trường bất động sản nghỉ dưỡng. Việc Nhà nước đang đẩy mạnh cải cách thể chế, chính sách để tháo gỡ rào cản về visa, thị thực, thời hạn… sẽ tạo ra các cơ hội, sức hút tốt cho khách du lịch.
Bà Mariam J. Sherman, Giám đốc Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam, Campuchia và CHDCND Lào, cho rằng cần xây dựng chính sách hướng tới nâng xếp hạng tín nhiệm quốc gia lên mức đầu tư, giúp giảm chi phí vay không chỉ cho Nhà nước mà cả những doanh nghiệp Việt Nam chịu ảnh hưởng từ xếp hạng tín nhiệm quốc gia.