Theo Cổng thông tin điện tử Quốc hội, chiều 20/10, phát biểu tại phiên thảo luận Tổ 3, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng, Đại biểu Quốc hội thành phố Hải Phòng, cho biết thời gian qua, nhiều luật quan trọng như Luật Quy hoạch, Luật Đầu tư, Luật Đất đai, Luật Đấu thầu đã và đang được sửa đổi, bổ sung, trong đó có nhiều quy định liên quan trực tiếp đến lĩnh vực điện lực. Vì vậy, mặc dù Luật Điện lực mới được sửa đổi, việc tiếp tục hoàn thiện Luật là cần thiết nhằm bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất của hệ thống pháp luật, đồng thời tháo gỡ những vướng mắc phát sinh trong thực tiễn.
Thủ tướng phân tích, Việt Nam đã xác lập mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, đòi hỏi nhu cầu điện năng rất lớn. Bên cạnh Trung tâm Dữ liệu quốc gia, hệ thống dữ liệu dự phòng và dữ liệu của các bộ, ngành, địa phương đều cần nguồn điện dồi dào, ổn định và liên tục. Đáp ứng đủ điện cũng là yêu cầu quan trọng tại Nghị quyết số 70-NQ/TW của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia. Do đó, việc sửa đổi Luật Điện lực phải tạo cơ sở pháp lý để huy động nguồn lực đầu tư, phát triển đồng bộ các nguồn điện và hệ thống truyền tải, đáp ứng yêu cầu phát triển trong dài hạn.
TÌM ĐIỂM CÂN BẰNG HÀI HÒA LỢI ÍCH BA BÊN
Thủ tướng nhấn mạnh yêu cầu xây dựng môi trường đầu tư minh bạch, có khả năng dự báo và hài hòa lợi ích giữa các bên. Các dự án điện lực thường có quy mô vốn lớn, thời gian thu hồi dài, nhà đầu tư phải huy động từ nhiều tổ chức tài chính quốc tế nên rất quan tâm tới tính ổn định của chính sách và khả năng kiểm soát rủi ro.
Tuy nhiên, việc thu hút đầu tư phải đi đôi với bảo đảm lợi ích quốc gia, quyền lợi của người dân và khả năng tiếp cận điện với mức giá hợp lý. "Chúng ta phải tìm được điểm cân bằng giữa lợi ích của các nhà đầu tư với lợi ích của Nhà nước, lợi ích của nhân dân. Nếu các điều kiện đầu tư không đủ hấp dẫn, rủi ro quá lớn thì chúng ta không thể huy động được nguồn vốn rất lớn từ khu vực tư nhân và các nhà đầu tư nước ngoài để phát triển ngành điện. Ngược lại, nếu cơ chế ưu đãi quá lớn, làm tăng giá điện và chi phí sản xuất, kinh doanh thì sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến người dân, doanh nghiệp và sức cạnh tranh của nền kinh tế”, Thủ tướng phân tích.
Đề cập đến cơ cấu nguồn điện, Thủ tướng cho rằng khi dư địa thủy điện không còn nhiều và việc dùng nhiên liệu hóa thạch phải gắn với cam kết phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam cần phát triển hợp lý điện khí trong nước, điện khí LNG nhập khẩu, điện gió, điện mặt trời và các nguồn năng lượng mới.
Thủ tướng lưu ý cơ cấu các nguồn điện phải được tính toán hợp lý, bởi mỗi loại hình có chi phí đầu tư, giá thành sản xuất và đặc điểm vận hành khác nhau. Đặc biệt, đối với điện khí LNG, chi phí phát điện có thể cao, nếu phát triển với tỷ trọng không phù hợp sẽ tạo áp lực lên giá điện. Vì vậy, chính sách phát triển nguồn điện phải được xem xét tổng thể, bảo đảm an ninh năng lượng, hiệu quả kinh tế và kiểm soát chi phí đầu vào của nền kinh tế.
CẢI CÁCH THỦ TỤC, ĐẨY NHANH TIẾN ĐỘ DỰ ÁN
Đề cập đến những điểm nghẽn trong phát triển điện lực, Thủ tướng nhấn mạnh yêu cầu cải cách mạnh mẽ thủ tục hành chính, rút ngắn thời gian chuẩn bị và triển khai dự án.
Thủ tướng cho biết qua làm việc với các nhà đầu tư nước ngoài, có ý kiến phản ánh việc thực hiện thủ tục đối với một dự án điện gió ngoài khơi có thể kéo dài tới 10 năm. Nếu cải cách thủ tục hành chính, thời gian này có thể rút ngắn xuống còn khoảng 5 năm. Do đó, việc sửa đổi Luật Điện lực cần được thực hiện đồng bộ với các luật có liên quan, tạo hành lang pháp lý thuận lợi, giảm thời gian và chi phí thực hiện dự án, đồng thời vẫn bảo đảm yêu cầu quản lý nhà nước.
Bày tỏ lo ngại khi nhiều dự án nguồn và lưới điện thuộc Quy hoạch điện 8 còn chậm tiến độ do địa phương chưa chọn được nhà đầu tư hoặc chưa hoàn tất thủ tục, Thủ tướng cho biết Chính phủ sẽ chỉ đạo Bộ Công Thương phối hợp với các bộ, ngành, địa phương rà soát, điều chỉnh Quy hoạch điện 8 theo hướng bảo đảm tính khả thi và tiến độ.
Thủ tướng lưu ý, phát triển nguồn điện phải đồng bộ với đầu tư lưới điện truyền tải, bởi nếu nguồn điện được xây dựng nhưng không có hệ thống truyền tải tương ứng thì không thể giải tỏa công suất. Đặc biệt, đối với các khu kinh tế lớn, trung tâm công nghiệp và khu vực có nhu cầu sử dụng điện cao, cần tính toán đầu tư đồng bộ cả nguồn điện và lưới điện, bảo đảm cung cấp điện ổn định cho hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Liên quan đến các cơ chế, chính sách thu hút đầu tư, Thủ tướng cho rằng đối với các dự án quy mô vốn lớn như điện khí LNG, cơ chế sản lượng điện hợp đồng tối thiểu hiện nay chưa giải quyết triệt để quan ngại về thu hồi vốn, biến động tỷ giá và cân đối ngoại tệ.
Thủ tướng nhấn mạnh quá trình sửa luật cần xem xét cơ chế chia sẻ rủi ro hợp lý để vừa tạo sức hút với các nhà đầu tư lớn, vừa bảo toàn lợi ích quốc gia. Chính phủ sẽ chỉ đạo Bộ Công Thương tiếp thu ý kiến đại biểu và cơ quan thẩm tra, rà soát đồng bộ các dự thảo nghị định, thông tư hướng dẫn thi hành. Việc hoàn thiện luật nhằm tạo nền tảng pháp lý dài hạn, bảo đảm đủ điện phục vụ mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số, phát triển công nghệ cao và chuyển đổi số.
BỘ CÔNG THƯƠNG ĐỀ XUẤT THÁO GỠ CÁC ĐIỂM NGHẼN
Tại phiên thảo luận, Bộ trưởng Bộ Công Thương Lê Mạnh Hùng làm rõ các nhóm vấn đề cần tháo gỡ. Mặc dù Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 500/QĐ-TTg năm 2023 phê duyệt Quy hoạch điện 8 và Quyết định số 768/QĐ-TTg năm 2025 phê duyệt điều chỉnh, song quá trình triển khai vẫn phát sinh bất cập do thiếu đồng bộ giữa quy hoạch điện với các quy hoạch khác, đặc biệt trong bối cảnh điều chỉnh địa giới hành chính và đẩy mạnh phân cấp, phân quyền.
Do đó, dự thảo luật tập trung hoàn thiện cơ chế cập nhật, điều chỉnh quy hoạch, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ giữa các quy hoạch và trong quá trình tổ chức thực hiện; đồng thời phân loại các dự án điện lực đã có trong quy hoạch được phê duyệt.
Đối với những dự án đáp ứng đầy đủ điều kiện được đề xuất miễn thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư và dùng văn bản chấp thuận nhà đầu tư làm cơ sở pháp lý triển khai, qua đó cắt giảm thủ tục hành chính và đẩy nhanh tiến độ vận hành.
Bộ trưởng Lê Mạnh Hùng cho biết quá trình đàm phán giá và ký kết hợp đồng mua bán điện hiện là điểm nghẽn lớn, bởi giá trúng thầu mới chỉ được coi là mức giá trần, khiến quá trình đàm phán hợp đồng mua bán điện có thể kéo dài vài năm, thậm chí có dự án đã vận hành thương mại nhưng vẫn chưa ký kết được hợp đồng mua bán điện.
Để tháo gỡ vướng mắc này, Bộ Công Thương đã tham mưu Chính phủ trình Quốc hội xem xét quy định sử dụng giá điện trúng thầu trong quá trình đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư làm cơ sở xác định giá điện trong hợp đồng mua bán điện. Cơ chế này sẽ góp phần hạn chế rủi ro, giảm bớt những bất đồng trong quá trình đàm phán, tiết kiệm thời gian và tạo thuận lợi cho việc triển khai các dự án điện lực.
Liên quan đến chính sách phát triển điện khí, Bộ trưởng Lê Mạnh Hùng cho biết hiện nay Việt Nam phát triển hai loại hình chính, gồm điện khí sử dụng khí tự nhiên khai thác trong nước và điện khí sử dụng khí thiên nhiên hóa lỏng nhập khẩu (LNG). Trong đó, chủ trương khai thác tối đa nguồn khí trong nước gắn với phát triển ngành dầu khí và đóng góp ngân sách; đồng thời bổ sung nguồn LNG nhập khẩu theo Quy hoạch điện 8 điều chỉnh.
Tuy nhiên, đối với các dự án điện khí LNG, Bộ trưởng cho biết các quy định tại Luật Điện lực hiện hành và Nghị định số 56/2025/NĐ-CP chưa đủ hấp dẫn với các dự án LNG có tổng vốn đầu tư lớn và chi phí cố định cao. Mặc dù sản lượng điện hợp đồng tối thiểu (Qc) đã được quy định ở mức 65%, việc huy động thực tế vẫn phụ thuộc vào cơ chế chào giá và vận hành thị trường.
Để giải quyết vấn đề này, Bộ Công Thương đã tham mưu Chính phủ đề xuất bổ sung cơ chế giá công suất bên cạnh giá điện năng nhằm bù đắp cho khả năng sẵn sàng phát điện, bảo đảm quyền lợi nhà đầu tư, tạo điều kiện thu hút nguồn lực phát triển các dự án điện khí LNG.
Tuy nhiên, việc thiết kế cơ chế này phải được tính toán thận trọng, bảo đảm hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, nhà đầu tư và người sử dụng điện, đồng thời không tạo ra những tác động bất hợp lý đến giá điện của nền kinh tế.
Bộ trưởng Lê Mạnh Hùng cũng đề cập yêu cầu tiếp tục hoàn thiện chính sách phát triển năng lượng tái tạo, trong đó có điện gió, điện mặt trời và các nguồn năng lượng mới, phù hợp với xu hướng chuyển dịch năng lượng và cam kết đạt phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050 của Việt Nam.
Nhấn mạnh mục tiêu của việc sửa đổi, bổ sung Luật Điện lực, Bộ trưởng Lê Mạnh Hùng cho biết, các cơ chế, chính sách được đề xuất lần này tập trung tháo gỡ những điểm nghẽn thực tiễn, tạo điều kiện huy động nguồn lực đầu tư, đẩy nhanh tiến độ các dự án điện lực, bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia và cung cấp đủ điện cho nền kinh tế.
Dự án Luật sửa đổi Luật Điện lực được trình Quốc hội nhằm đẩy mạnh phân cấp, cắt giảm thủ tục và gỡ nghẽn đầu tư. Trọng tâm dự thảo hướng đến minh bạch cơ chế giá, xóa bỏ bù chéo, thúc đẩy thị trường điện cạnh tranh gắn liền với an sinh xã hội và an ninh năng lượng…
Đứng trước các tiêu chuẩn môi trường toàn cầu, ngành nhựa Việt Nam đang từng bước bứt phá, chuyển mình mạnh mẽ từ mô hình sản xuất truyền thống sang chuỗi giá trị tuần hoàn, định hình tương lai bền vững...
EUDR đặt ra yêu cầu nghiêm ngặt về tính hợp pháp, truy xuất nguồn gốc địa lý đến từng lô đất và bằng chứng chứng minh sản phẩm không liên quan đến mất rừng, suy thoái rừng sau ngày 31/12/2020. Bản đồ ranh giới rừng năm 2020 phiên bản 1.0 được kỳ vọng hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam đối chiếu dữ liệu, hoàn thiện hồ sơ phục vụ xuất khẩu...
Chính phủ đề xuất bãi bỏ, đơn giản hóa 20 thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh; phân cấp, phân quyền 10 nội dung; tháo gỡ 31 nội dung vướng mắc, đặc biệt gắn với yêu cầu của môi trường kinh tế số và nền tảng số.
Sự kiện phát điện Nhà máy Nhiệt điện Quảng Trạch I và khởi công dự án LNG Quảng Trạch II ghi dấu bước tiến chiến lược của ngành năng lượng. Hai dự án trọng điểm này không chỉ góp phần bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng quốc gia, mà còn giữ vai trò quan trọng trong chuyển dịch cơ cấu nguồn điện xanh bền vững và thúc đẩy kinh tế – xã hội địa phương…
Mời quý độc giả đón đọc Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 42-2026 phát hành ngày 19/10/2025 với nhiều chuyên mục hấp dẫn...
Nhà ở xã hội và nhà ở cho thuê trong thời gian qua được ban hành nhiều cơ chế, chính sách thông thoáng, tạo điều kiện thu hút các nguồn lực tham gia đầu tư. Quỹ đất đối với nhà ở cho thuê sẽ được bố trí tại các khu vực phường thuộc đô thị loại đặc biệt, loại 1, loại 2.