
Mô hình doanh nghiệp dịch vụ năng lượng (ESCO) là hình thức công ty dịch vụ năng lượng, chuyên cung cấp các giải pháp năng lượng toàn diện bao gồm thiết kế và thực hiện các dự án tiết kiệm năng lượng, bảo tồn năng lượng, cho thuê cơ sở hạ tầng năng lượng...
Hình thức này bảo đảm cho các chi phí đầu tư, kết quả tiết kiệm năng lượng, chịu rủi ro về thương mại để thực hiện giải pháp hiệu quả năng lượng và quản lý trong cả thời gian thực hiện dịch vụ.
Theo Bộ Công Thương, nhiều quốc gia trên thế giới đã triển khai thành công Quỹ tiết kiệm năng lượng và mô hình ESCO, tạo ra cú hích lớn cho việc nâng cao hiệu suất sử dụng năng lượng.
Đơn cử như Thái Lan là một trong những quốc gia tiên phong trong khu vực ASEAN về xây dựng thể chế hỗ trợ tiết kiệm năng lượng. Từ năm 1992, nước này đã thành lập Quỹ Tiết kiệm Năng lượng (ENCON Fund) với nguồn thu ổn định từ thuế nhiên liệu. ENCON Fund đóng vai trò là trung tâm tài chính của hàng loạt chương trình hỗ trợ kỹ thuật, bảo lãnh tín dụng, tài trợ nghiên cứu và kết nối doanh nghiệp.
Chính phủ Thái Lan cũng vận hành thị trường ESCO mạnh mẽ. Hàng trăm doanh nghiệp hoạt động chuyên sâu trong các lĩnh vực như HVAC, chiếu sáng công nghiệp, cải tạo tòa nhà… dưới sự điều phối của Cơ quan Phát triển Hiệu quả Năng lượng (DEDE). Mô hình hợp tác ba bên – Nhà nước hỗ trợ chính sách, doanh nghiệp triển khai kỹ thuật và ngân hàng cung cấp vốn đã giúp thị trường ESCO Thái Lan vận hành minh bạch và bền vững.
Hoa Kỳ phát triển hàng loạt quỹ năng lượng cấp bang. Chính phủ Hoa Kỳ thường không trực tiếp vận hành mà ủy quyền cho các tổ chức độc lập, bảo đảm tính linh hoạt và hiệu quả. Thị trường ESCO tại Hoa Kỳ phát triển sớm và đạt quy mô hàng chục tỷ USD mỗi năm. Các doanh nghiệp dịch vụ năng lượng triển khai hàng loạt dự án EPC trong khu vực công, bệnh viện, trường học, và cả trong doanh nghiệp tư nhân. Đặc biệt, các công cụ đo lường, đánh giá, cơ sở dữ liệu hiệu suất và mẫu hợp đồng được chuẩn hóa, công khai rộng rãi.
Trung Quốc là quốc gia châu Á có quy mô thị trường tiết kiệm năng lượng và ESCO lớn nhất thế giới. Chính phủ nước này đã thành lập Quỹ hỗ trợ hiệu quả năng lượng ở cấp Trung ương và địa phương, chủ yếu thông qua Ngân hàng Phát triển Trung Quốc và các quỹ đầu tư xanh.
Một trong những động lực chính là chính sách trợ giá trực tiếp cho tiết kiệm năng lượng: doanh nghiệp được nhận tiền tương ứng với lượng năng lượng tiết kiệm được (theo đơn vị TOE – tấn dầu quy đổi). Các dự án có quy mô lớn hoặc công nghệ mới còn được nhận hỗ trợ kỹ thuật, ưu đãi thuế và tài trợ thiết bị.
Chính vì vậy, Trung Quốc hiện có hơn 6.000 công ty ESCO hoạt động trên toàn quốc, phần lớn trong lĩnh vực công nghiệp nặng, chiếu sáng đô thị và cải tạo nhà máy. Nhà nước xây dựng hệ thống xếp hạng, giám sát kỹ thuật và kết nối ngân hàng – doanh nghiệp – ESCO thông qua các nền tảng kỹ thuật số và hiệp hội ngành nghề. Đây là mô hình cho thấy khi nhà nước can thiệp chiến lược và tạo dựng hạ tầng thị trường, thị trường ESCO có thể phát triển nhanh và rộng.
Tại Việt Nam, theo khảo sát của Hội khoa học và Công nghệ sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả Việt Nam (VECEA), tính đến tháng 7/2024, Việt Nam có trên 200 tổ chức, doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế hoạt động trong lĩnh vực tư vấn và cung cấp dịch vụ tiết kiệm năng lượng.
Chia sẻ tại diễn đàn “Thúc đẩy năng lượng xanh trong khu công nghiệp: Giải pháp cho doanh nghiệp triển khai hiệu quả” mới đây, TS. Trịnh Quốc Dũng, Khoa Năng lượng Nhiệt Trường Cơ khí, Đại học Bách khoa Hà Nội, cho rằng Việt Nam hiện nay đã có các chính sách hỗ trợ tài chính và phi tài chính cho các dự án sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả (EE) và phát triển doanh nghiệp ESCO. Như: Ưu đãi về thuế, hỗ trợ vay vốn ưu đãi từ các quỹ trong nước và quốc tế, cùng với việc xây dựng hành lang pháp lý khuyến khích hợp tác công – tư trong lĩnh vực tiết kiệm năng lượng.
Tuy nhiên, thách thức trong triển khai mô hình ESCO tại Việt Nam hiện nay là thiếu cơ chế tài chính và vốn dài hạn; khó khăn huy động vốn và bảo lãnh tín dụng; thiếu nhận thức và động lực đầu tư.
Còn theo VECEA,Việt Nam chưa có quy định thanh toán, chi trả cho dịch vụ ESCO khi có sự tham gia của doanh nghiệp nhà nước; chưa có quy định về kiểm tra, giám sát mức tiết kiệm năng lượng của bên thứ ba, cũng như giải quyết tranh chấp hợp đồng và các vấn đề nảy sinh giữa ESCO và doanh nghiệp.
Bộ Công Thương nhận định ESCO là mô hình kinh doanh mới, được sử dụng hiệu quả tại nhiều nước phát triển do tính ưu việt trong việc đầu tư trước thiết bị năng lượng cho người dùng và hoàn trả chi phí thiết bị trong quá trình sử dụng.
Mô hình này cũng thúc đẩy thị trường tiết kiệm năng lượng, tạo động lực cho các doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực này, góp phần thực hiện cam kết của Việt Nam về giảm phát thải khí nhà kính, phát triển bền vững.
Để triển khai thực hiện mô hình này tại Việt Nam, Bộ Công Thương cho rằng Quỹ tiết kiệm năng lượng cần được thiết kế theo mô hình tài chính công – tư kết hợp, có khả năng thu hút và luân chuyển vốn, hỗ trợ đồng thời cho cải tạo công nghiệp, dân dụng và đổi mới công nghệ.
Đồng thời, xây dựng cơ chế tài chính bền vững như vay lãi suất thấp, gây quỹ, và quỹ bảo lãnh; thiết lập các kênh hợp tác với các tổ chức tài trợ và các quỹ. Xây dựng mô hình liên kết tài chính giữa doanh nghiệp - Công ty ESCO và các tổ chức tín dụng.
Bên cạnh đó, cần phân tầng quản lý – điều phối hiệu quả: Cần có một cơ quan đầu mối quốc gia như DEDE (Thái Lan) kết nối kỹ thuật – tài chính – chính sách, cũng như ứng dụng nền tảng số trong giám sát tiết kiệm năng lượng và phổ biến thông tin về doanh nghiệp ESCO, hợp đồng mẫu, cơ hội đầu tư. Kết hợp chiến lược cộng đồng hóa (giống như Hà Lan), đưa tiết kiệm năng lượng về từng khu dân cư, tòa nhà, tổ dân phố; gắn tiết kiệm điện với chất lượng sống.
Theo TS Trịnh Quốc Dũng, yếu tố then chốt của thị trường ESCO là xây dựng khung pháp lý rõ ràng, đầy đủ và hỗ trợ hiệu quả, đặc biệt là chuẩn hóa mẫu hợp đồng EPC (hợp đồng thiết kế – cung cấp thiết bị công nghệ và thi công xây dựng công trình), cơ chế chia sẻ tiết kiệm và tiêu chuẩn đánh giá độc lập.
Với định hướng sửa đổi Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, các chuyên gia nhận định Việt Nam đang đứng trước cơ hội định hình một hệ sinh thái tiết kiệm năng lượng vững chắc, hiện đại và giàu tiềm năng hợp tác quốc tế.
Thương hiệu không chỉ là danh xưng hoa mỹ mà cốt lõi chính là niềm tin được chuyển hóa thành lợi ích kinh tế thiết thực. Tuy nhiên, nếu không được nâng đỡ bởi năng lực công nghệ nội tại và hoạt động đổi mới sáng tạo liên tục, thương hiệu chỉ là một lớp vỏ rỗng, khiến nền kinh tế dễ rơi vào bẫy gia công giá trị thấp...
Phúc lợi động vật ngày càng được quan tâm trong chăn nuôi, vận chuyển, giết mổ và nghiên cứu khoa học, không chỉ vì yêu cầu đối xử nhân đạo mà còn gắn với sức khỏe vật nuôi, an toàn thực phẩm, hiệu quả sản xuất và yêu cầu của thị trường...
Xu hướng dịch chuyển chuỗi cung ứng toàn cầu đang thúc đẩy dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Việt Nam chuyển dịch mạnh mẽ từ “lợi thế chi phí” sang “năng lực cạnh tranh hệ sinh thái”. Vì vậy, cuộc đua thu hút FDI chất lượng cao sẽ không nằm ở quỹ đất rộng lớn, mà dựa trên tốc độ triển khai, hạ tầng kết nối, dữ liệu minh bạch và khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn xanh (ESG)…
Chuyến thăm cấp Nhà nước tới Canada từ ngày 24/9/2026 của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm diễn ra trong bối cảnh quan hệ Việt Nam - Canada đang mở rộng từ thương mại sang đầu tư, năng lượng, công nghệ, khoáng sản quan trọng và tăng cường khả năng chống chịu của chuỗi cung ứng…
Từ vị thế quan trọng trong nguồn cung gỗ, cà phê, cao su toàn cầu, Việt Nam cần chuyển từ làm tốt khâu sản xuất, đáp ứng tiêu chuẩn sang chủ động xây dựng thương hiệu, tiêu chuẩn và tham gia định hình luật chơi của thị trường...
Việt Nam chiếm 3,6% năng lực sản xuất thiết bị và linh kiện điện tử toàn cầu, đứng thứ sáu thế giới. Trung Quốc dẫn đầu với 58,8%, cao hơn tổng tỷ trọng của tất cả nền kinh tế còn lại trong bảng xếp hạng...
Giữa núi rừng biên giới Yên Khương, đêm Trung thu năm nay trở nên đặc biệt hơn khi hơn 1.000 phần quà được trao tới các em học sinh, cùng những ước mơ nhỏ bé được lắng nghe và chắp cánh.