Cụ thể, theo số liệu của VISRating, tỷ lệ ngân hàng có trái phiếu được xếp hạng tín nhiệm trong nước thấp hơn nhiều so với các thị trường trong khu vực.
Cuối năm 2025, chỉ có 2 trong số 28 ngân hàng thương mại tại Việt Nam thuộc phạm vi phân tích có trái phiếu được xếp hạng tín nhiệm trong nước, tương đương khoảng 7%.
Tỷ lệ này vào khoảng 60% tại Thái Lan và trên 75% tại Malaysia, Hàn Quốc và Trung Quốc. Trong khi đó, đến cuối tháng 9/2026, trái phiếu ngân hàng chiếm khoảng 46% tổng giá trị trái phiếu doanh nghiệp đang lưu hành.
Trái phiếu ngân hàng chào bán ra công chúng được miễn yêu cầu xếp hạng tín nhiệm bắt buộc; các đợt phát hành riêng lẻ chỉ dành cho nhà đầu tư tổ chức cũng không thuộc diện bắt buộc. Tuy nhiên, dù không thuộc diện bắt buộc, các ngân hàng vẫn có thể chủ động thực hiện xếp hạng tín nhiệm trong nước.
Việc chịu sự giám sát an toàn hoạt động và có khả năng được Chính phủ hỗ trợ không loại bỏ rủi ro tín dụng của từng ngân hàng. Moody’s ghi nhận 221 định chế được xếp hạng tại 38 quốc gia đã rơi vào tình trạng vỡ nợ hoặc phải nhận hỗ trợ đặc biệt để tránh vỡ nợ trong giai đoạn 2007–2015.
Tuy nhiên, không phải trường hợp nào cũng liên quan đến việc không thanh toán được trái phiếu. Chất lượng tài sản suy giảm, áp lực huy động vốn và những hạn chế trong quản trị là các nguyên nhân chính.
Trường hợp Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn (SCB) cho thấy hoạt động cho vay đối với các bên liên quan, cùng những hạn chế trong quản trị, có thể làm suy giảm niềm tin và dẫn đến căng thẳng thanh khoản. Việc đáp ứng các tỷ lệ an toàn hoặc giữ vai trò quan trọng trong hệ thống chưa đủ để chứng minh ngân hàng có khả năng trả nợ. Ngay cả khi cơ quan quản lý can thiệp, trái phiếu vẫn có thể không được thanh toán đúng hạn.
Trái phiếu thứ cấp tăng nhanh và quá trình tiến tới Basel III khiến việc đánh giá rủi ro của từng công cụ nợ trở nên quan trọng hơn. Đến cuối tháng 9/2026, trái phiếu thứ cấp chiếm gần 60% tổng giá trị trái phiếu ngân hàng đang lưu hành.
Trái phiếu thứ cấp được tính vào vốn cấp 2 (Tier 2) có thứ tự thanh toán sau các chủ nợ ưu tiên. Ngân hàng có thể hoãn trả lãi và chuyển khoản lãi này sang các kỳ sau nếu việc thanh toán khiến ngân hàng bị lỗ trong năm. Khoản lãi bị hoãn không bị hủy, nhưng nhà đầu tư phải chờ lâu hơn để được thanh toán và có thể thu hồi ít hơn nếu ngân hàng gặp khó khăn.
Quy định mới về tỷ lệ an toàn vốn đang đưa Việt Nam tiến gần hơn đến chuẩn mực Basel III, đồng thời tạo cơ sở cho việc phát hành công cụ bổ sung vốn cấp 1 (AT1). Các công cụ này có thứ tự thanh toán sau công cụ vốn cấp 2 (Tier 2) và không có ngày đáo hạn.
Ngân hàng có quyền hủy thanh toán lãi mà không bị coi là vi phạm hợp đồng. AT1 được phân loại là khoản nợ; công cụ này sẽ được chuyển đổi thành cổ phần hoặc bị ghi giảm giá trị gốc nếu tỷ lệ vốn lõi cấp 1 (CET1) xuống dưới 5,125%, khiến nhà đầu tư có nguy cơ mất một phần hoặc toàn bộ vốn gốc.
Việc định giá trái phiếu ngân hàng có cấu trúc phức tạp sẽ càng khó khăn nếu thị trường chưa phân biệt rõ chất lượng tín nhiệm giữa các ngân hàng.
Phân tích 284 trái phiếu ưu tiên, không có bảo đảm (trái phiếu thường), kỳ hạn ba năm, được phát hành từ năm 2023 đến hết nửa đầu năm 2026, cho thấy một số ngân hàng có mức đánh giá tín nhiệm thấp hơn vẫn có thể phát hành trái phiếu với mức chênh lệch lợi suất (phần bù rủi ro) tương đương hoặc thấp hơn các ngân hàng có hồ sơ tín nhiệm tốt.
Những đánh giá tín nhiệm nội bộ này không phải là kết quả xếp hạng tín nhiệm công khai. Bên cạnh đó, mức chênh lệch lợi suất còn chịu tác động của các yếu tố thị trường.
Theo VISRating, khi xếp hạng tín nhiệm chưa được sử dụng rộng rãi và thị trường chưa phân biệt rõ rủi ro giữa các ngân hàng, việc xác định mức lợi suất phù hợp cho những trái phiếu có thứ tự thanh toán và điều khoản chịu tổn thất khác nhau sẽ trở nên khó khăn hơn.
Xếp hạng tín nhiệm của ngân hàng phát hành và từng loại trái phiếu giúp nhà đầu tư so sánh rủi ro, trong khi dữ liệu giao dịch trên thị trường hỗ trợ đánh giá liệu mức lợi suất có đủ bù đắp rủi ro hay không. Tuy nhiên, các thông tin này không thể thay thế việc nhà đầu tư tự phân tích trước khi đưa ra quyết định đầu tư.
Tuần trước, khi tâm lý bi quan đẩy chứng khoán Trung Quốc rơi vào thị trường giá xuống, Bắc Kinh lại huy động nhóm quỹ đầu tư nhà nước thường được giao nhiệm vụ mua vào cổ phiếu để chặn đà lao dốc. Tuy nhiên, lần này giới đầu tư không còn chắc chắn cách làm quen thuộc đó sẽ phát huy hiệu quả...
Cá nhà hoạch định chính sách Fed đang ở vào vào một tình thế khó xử, xét cả về bối cảnh chính trị và thực trạng nền kinh tế...
Dòng vốn có xu hướng dịch chuyển từ cổ phiếu sang trái phiếu Mỹ khi nhà đầu tư gia tăng phân bổ vào tài sản phòng thủ trước biến động của nhóm công nghệ và những bất định về triển vọng lãi suất của Fed.
Khả năng tạo dòng tiền, cải thiện hiệu quả bán lẻ và gia tăng đóng góp từ các mảng kinh doanh chủ lực đang mở ra dư địa tăng trưởng mới cho Masan Group (HOSE: MSN). Những chuyển biến này cũng thu hút sự chú ý của các tổ chức phân tích tài chính, với HSC vừa nâng mức định giá mục tiêu đối với Masan thêm 20%.
Thị trường chứng khoán Mỹ tăng điểm trong phiên giao dịch ngày thứ Ba (27/10), khi sự phục hồi tâm lý ở nhóm cổ phiếu chip tiếp tục diễn ra...
Theo nhận định của các chuyên gia, so với môi trường đầu tư cách đây vài năm thì thời điểm hiện tại nhà đầu tư cần chuyển hướng nhìn vào khả năng thanh khoản, khả năng đáp ứng nhu cầu thực... để dự án trở thành hàng hóa có khả năng thanh khoản. Nếu không sẽ dễ rơi vào tình cảnh tồn kho như số liệu Bộ Xây dựng vừa công bố mới đây.
Thảo luận Luật Nhà ở (sửa đổi), các đại biểu Quốc hội cho rằng, đối với các dự án nhà ở cho thuê do Nhà nước đầu tư để dẫn dắt thị trường thì cần yêu cầu công khai đầy đủ cấu phần giá thành gồm chi phí đất, xây dựng, tài chính, quản lý, vận hành, bảo trì và các khoản chi phí hợp pháp khác. Việc công khai này giúp hình thành mặt bằng tham chiếu đáng tin cậy cho thị trường...