VnEconomy - Nhịp sống Kinh tế Việt Nam và Thế giới
Menu
VnEconomy
VnEconomy

Tập đoàn TH đã lựa chọn con đường phát triển bền vững từ rất sớm. Đây là bước đi mang ý nghĩa chiến lược, đồng thời cũng là cam kết vì hạnh phúc cộng đồng. Giá trị cốt lõi của Tập đoàn TH là tạo ra những sản phẩm mang lại lợi ích cho sức khỏe cộng đồng nhưng không làm tổn hại đến môi trường. Đó là triết lý xuyên suốt trong mọi hoạt động của chúng tôi: làm bất cứ điều gì cũng phải nghĩ đến thế hệ tương lai.

Kinh tế tuần hoàn chính là nền tảng của kinh tế xanh và kinh tế tự nhiên. Các dự án đầu tư của Tập đoàn TH đều được định hướng ứng dụng công nghệ cao, công nghệ xanh nhằm tạo ra những sản phẩm sữa tinh túy nhất cho người dùng, đồng thời góp phần thực hiện cam kết Net Zero vào năm 2050.

Quá trình thực thi kinh tế tuần hoàn, chúng tôi triển khai nhiều giải pháp và sáng kiến cụ thể trong chuỗi sản xuất khép kín. Ví dụ về năng lượng tái tạo, trong sản xuất công nghiệp, chúng tôi sử dụng nhiên liệu biomass để vận hành lò hơi, thay thế nhiên liệu hóa thạch. Giải pháp này giúp giảm phát thải khoảng 10.000 tấn CO2 mỗi năm. Bên cạnh đó, chúng tôi tận dụng năng lượng mặt trời để phát điện, góp phần gia tăng tỷ trọng năng lượng xanh và từng bước tự chủ nguồn năng lượng phục vụ sản xuất.

Ở góc độ khác, tôi muốn nói đến năng lượng sinh học từ thức ăn được chuyển hóa trong cơ thể bò để duy trì sự sống và sản xuất sữa. Nguồn thức ăn này chủ yếu đến từ phụ phẩm nông nghiệp và công nghiệp thực phẩm. Cụ thể, rơm rạ, trấu từ sản xuất nông nghiệp được dùng làm thức ăn và đệm chuồng; sau đó được ủ thành phân compost, quay trở lại bón cho đồng ruộng. Các phụ phẩm như bã mía, bã bia, bã đậu từ các nhà máy đường, bia, ép dầu… đều được tận dụng làm thức ăn cho bò.

Tôi thường nói: các ngành công nghiệp nên “cảm ơn” ngành chăn nuôi. Nếu không có chăn nuôi, những thứ này sẽ bị coi là phế phẩm bỏ đi. Với chăn nuôi, chúng trở thành phụ phẩm có giá trị kinh tế và người nông dân như chúng tôi thậm chí phải “xếp hàng” để thu mua.

Đây là mối liên kết chặt chẽ giữa chăn nuôi và công nghiệp thực phẩm thành một hệ sinh thái kinh tế tuần hoàn hoàn chỉnh, nơi tài nguyên được tái tạo và tái sử dụng liên tục. Tôi cho rằng không có ngành nào ứng dụng kinh tế tuần hoàn tốt hơn nông nghiệp. Đây là ngành có khả năng tái tạo tự nhiên, khép kín và lý tưởng nhất.

Một nội dung quan trọng khác là xử lý chất thải chăn nuôi. Với chúng tôi, chất thải không phải là gánh nặng mà là tài nguyên, giá trị kinh tế cụ thể. Phân bò được xử lý thành phân hữu cơ chất lượng cao, cải tạo đất, tăng năng suất cây trồng, giảm sử dụng phân hóa học và thuốc bảo vệ thực vật. Bên cạnh đó, chúng tôi triển khai các giải pháp bao bì xanh, thu gom và tái chế vỏ hộp sữa; chuyển sang sử dụng các loại bao bì thân thiện môi trường, hạn chế nhựa dùng một lần.

Với việc đầu tư vào kinh tế tuần hoàn giúp Tập đoàn TH tiết kiệm hàng chục tỷ đồng mỗi năm, giảm thiểu rủi ro môi trường và gia tăng giá trị thương hiệu trong nước cũng như quốc tế. Chúng tôi là thành viên sáng lập của các liên minh uy tín như Liên minh Doanh nghiệp vì môi trường Việt Nam (VBCSD) và hiện là một trong số ít doanh nghiệp tại Việt Nam có hai nhà máy đạt trung hòa carbon.

VnEconomy

Khu công nghiệp (KCN) sinh thái là KCN trong đó có doanh nghiệp thực hiện các hoạt động sử dụng hiệu quả tài nguyên, sản xuất sạch hơn, bảo vệ môi trường và liên kết, hợp tác trong sản xuất để đạt được hiệu quả kinh tế, môi trường và xã hội cao hơn so với KCN thông thường.

Một trong những mục tiêu chính của KCN sinh thái là thúc đẩy hoạt động của chuyển đổi từ mô hình kinh tế tuyến tính ("khai thác - sản xuất - thải bỏ") sang kinh tế tuần hoàn ("khai thác - sản xuất - tái sử dụng/tái chế") thông qua các hoạt động sản xuất sạch hơn, cộng sinh công nghiệp.

Việt Nam đã bắt đầu thí điểm mô hình KCN sinh thái từ năm 2015, thông qua sự hỗ trợ kỹ thuật từ  UNIDO phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư (nay là Bộ Tài chính) thực hiện với sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế như SECO, GEF… Đến nay, thực hành KCN sinh thái ở Việt Nam đã có những thành tựu đáng kể.

Về chính sách, thành tựu lớn nhất là việc thể chế hóa và đưa mô hình này vào các văn bản pháp luật như Nghị định số 35/2022/NĐ-CP; Thông tư số 05/2025/TT-BKHĐT về hướng dẫn xây dựng KCN sinh thái.

Theo đó các quy định về KCN sinh thái, quy trình công nhận KCN đã rõ ràng, cụ thể. Lần đầu tiên, các tiêu chí xác định KCN sinh thái, doanh nghiệp sinh thái được quy định rõ ràng, tạo cơ sở pháp lý quan trọng để khuyến khích các KCN áp dụng mô hình và được hưởng các ưu đãi đầu tư.

Ngoài ra, dự án còn hỗ trợ xây dựng Thông tư 05/2025/TT-BKHDT hướng dẫn thực hiện Nghị định số 35/2022/NĐ-CP, trong đó, các quy trình thủ tục và biểu mẫu đăng ký, báo cáo được chi tiết hóa, làm căn cứ để các địa phương và chủ đầu tư áp dụng thống nhất, đảm bảo tính minh bạch và hiệu quả.

KCN sinh thái cũng đã được đề cập trong nhiều chiến lược quan trọng. Các nội dung về KCN sinh thái cũng được lồng ghép vào nhiều chính sách quan trọng, như Chiến lược thực hiện sản xuất và tiêu dùng bền vững đến năm 2030; Chiến lược tăng trưởng xanh quốc gia giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn 2050; Nghị quyết 59/NQ-TW ngày 24/01/2025 của Bộ Chính trị.

Về mặt thực tiễn, dự án đã triển khai các can thiệp kỹ thuật sâu rộng vào hoạt động của năm KCN thí điểm gồm Deep C (Hải Phòng), Amata (Đồng Nai), Hiệp Phước (TP.Hồ Chí Minh), Hòa Khánh (Đà Nẵng) và Trà Nóc 1 & 2 (Cần Thơ). Năng lực của KCN, doanh nghiệp tham gia chuyển đổi dự án KCN sinh thái qua sự hỗ trợ của UNIDO được nâng cao.

Cụ thể, dự án GEIPP Việt Nam đã đánh giá hiện trạng, xác định các cơ hội cải thiện, lập kế hoạch triển khai các giải pháp RECP và cộng sinh công nghiệp, và đào tạo cho cán bộ quản lý, đại diện ban quản lý KCN và doanh nghiệp.

Trong giai đoạn 2020-2024, dự án đã đạt những kết quả quan trọng như: hơn 90 doanh nghiệp được hỗ trợ để áp dụng RECP, với 889 giải pháp được xác định, trong đó 429 giải pháp đã được triển khai thành công. Qua đó, mỗi năm các doanh nghiệp này đã tiết kiệm 14.378 MWh điện, 264.127 GJ nhiên liệu hóa thạch, 278.690 m3 nước, tái chế 49.257 tấn vật liệu và 22.180 tấn hóa chất; đồng thời giảm phát thải 138.994 tấn CO2 tương đương, mang lại 2,6 triệu USD lợi nhuận vận hành, với 3,3 triệu USD vốn đầu tư huy động từ tư nhân. Hệ thống tài liệu hướng dẫn chi tiết cho KCN sinh thái ngày càng hoàn thiện…

Thời gian tới, việc nhân rộng mô hình KCN sinh thái là rất cần thiết. Bước quan trọng nhất trong thúc đẩy nhân rộng mô hình KCN sinh thái chính là hình hành một hệ thống các cơ quan có thẩm quyền trong khuôn khổ pháp lý hiện hành có chức năng nhiệm vụ rõ ràng đảm nhiệm việc hoạch định, thực thi chính sách ở cấp quốc gia và địa phương.

Bên cạnh đó, cần có các chính sách cập nhật và phù hợp hơn với thực tiễn thực hiện KCN sinh thái nhằm thúc đẩy kinh tế tuần hoàn (tuần hoàn tái sử dụng nước thải trong KCN), các chính sách ưu đãi, khuyến khích doanh nghiệp, KCN chuyển đổi; tăng cường trao đổi đối thoại chính sách nhằm giải quyết khó khăn vướng mắc trong thực hiện KCN sinh thái cũng như chia sẻ các điển hình nhằm nhân rộng mô hình.

VnEconomy

Thực tế thời gian qua đã có sự dịch chuyển mạnh mẽ về chính sách, nhận thức cũng như các thực hành tốt về kinh tế tuần hoàn trong các doanh nghiệp, địa phương ở Việt Nam. Ứng dụng kinh tế tuần hoàn đã đóng góp vào phát triển kinh tế theo hướng bền vững hơn, tiết kiệm tài nguyên, giảm phát thải, thân thiện môi trường, nâng cao tính cạnh tranh, thúc đẩy các ngành nghề mới, tạo ra các việc làm xanh.

Chúng tôi đánh giá dư địa để phát triển kinh tế tuần hoàn ở Việt Nam còn rất lớn. Cụ thể, trong ngành nhựa, hiện nay tiêu dùng nội địa đang phát sinh lượng chất thải nhựa rất lớn nhưng chưa tận dụng hết. Trong khi đó hàng năm Việt Nam vẫn phải nhập khẩu phế liệu để đáp ứng nhu cầu sản xuất. Điều này cho thấy vẫn còn nhiều không gian để thúc đẩy kinh tế tuần hoàn trong thời gian tới.

Trong ngành nông nghiệp, phế phụ phẩm nông nghiệp phát sinh hàng năm lên tới 150 triệu tấn/năm, gấp 6 lần lượng phát sinh chất thải rắn. Với khối lượng phế, phụ phẩm nông nghiệp lớn này không được tái sử dụng, tận dụng một cách đầy đủ sẽ là một áp lực rất lớn cho nền kinh tế.

Bên cạnh đó, 30% lượng chất thải đến từ ngành xây dựng. Do đó, việc tái sử dụng vật liệu xây dựng cho các công trình hoặc dùng để san lấp là rất quan trọng và nhiều tiềm năng.

Hiện, công nghiệp sản xuất xi măng Việt Nam đang đứng thứ 5 thế giới nhưng việc sử dụng, đồng xử lý trong lò nung xi măng hiện nay chỉ đạt 4-5% thay thế nhiên liệu, trong khi đó các nước như  Na Uy tỷ lệ này đạt 75% và Đức là 50%.

Như vậy, với công suất sản xuất xi măng, năng lực xử lý chất thải là rất lớn. Tuy nhiên, Việt Nam hiện đang tiếp tục xây dựng các nhà máy đốt rác phát điện mới. Chúng tôi cho rằng đây là những điểm chưa hợp lý trong bài toán tổng thể về quản lý chất thải.

Về nước thải công nghiệp, nhu cầu tái sử dụng nước thải công nghiệp là rất lớn nhưng doanh nghiệp chỉ sử dụng để phục vụ rửa đường, tưới cây và các hoạt động trong khuôn viên nhà máy. Nếu nhà máy này tái chế cho nhà máy khác sử dụng sẽ gặp vướng về hành lang pháp lý, đánh giá tác động môi trường và giấy phép môi trường.

Từ thực tế trên, chúng tôi kiến nghị, trước hết, cần thiết lập hệ thống giám sát, đánh giá để có thể theo dõi và lượng hóa. Trong các Diễn đàn Kinh tế tuần hoàn chúng tôi phối hợp với các cơ quan tổ chức từ năm 2022 đến nay đều đưa ra các khuyến nghị về vấn đề hệ thống đánh giá để có thể lượng hóa được.

Ngoài các chỉ tiêu về môi trường và xã hội, chỉ tiêu về kinh tế, đóng góp cho GDP từ lĩnh vực kinh tế tuần hoàn hoặc việc làm xanh được tạo ra từ nền kinh tế tuần hoàn là những vấn đề được khuyến nghị để nâng cao vai trò, góc độ kinh tế của kinh tế tuần hoàn.

Bên cạnh đó, cần tập trung khai thác yếu tố đặc thù của kinh tế tuần hoàn để có sự khác biệt nhất định. Yếu tố quan trọng nhất là đảm bảo tuần hoàn vật liệu trong nền kinh tế; đầu ra của của ngành này sẽ là đầu vào của các ngành khác. Để làm được điều đó cần giải quyết từ khâu thiết kế.

Cụ thể trong thiết kế, chúng tôi gợi ý 3 mức độ. Thứ nhất, thiết kế sinh thái tuần hoàn ở góc độ sản phẩm. Thứ hai, thiết kế tuần hoàn cho những khu vực địa lý, ranh giới nhất định như khu công nghiệp sinh thái, tỉnh/thành phố. Thứ ba, ở mức độ cao nhất có thể thiết kế tuần hoàn cho các chuỗi giá trị, từ đó đóng góp trực tiếp cho mức độ tuần hoàn của nền kinh tế.

VnEconomy

Kinh tế tuần hoàn không còn là lựa chọn mà tiến tới là bắt buộc trong thời gian trung và dài hạn sắp tới. Trong hai năm trở lại đây, đặc biệt sau dịch Covid-19, thị trường gặp khó khăn, các doanh nghiệp cũng bước vào thời kỳ cạn kiệt về năng lực tài chính.

Bên cạnh đó, các thị trường lớn cũng siết tiêu dùng, trong khi đó các sản phẩm liên quan đến tuần hoàn, bền vững, xanh nhìn chung có giá cao hơn thông thường. Vì vậy, nếu các doanh nghiệp không lựa chọn bước đi thận trọng sẽ không xác định đúng nhu cầu của thị trường.

Về các mô hình tuần hoàn trong ngành dệt may hiện nay xoay quanh các chữ “R”, thậm chí trên thế giới có những mô hình có Rethink (nghĩ lại), Refurbish (làm mới lại các sản phẩm)…

Với Việt Nam, tôi cho rằng ngành dệt may là sản xuất truyền thống, cơ bản. Với tốc độ phát triển như hiện tại cần lựa chọn bước đi chắc chắn, tập trung vào Reduce (Giảm thiểu), Reuse (Tái sử dụng), Recycle (Tái chế)…

Reduce (giảm thiểu) từ phía cung, từ nhà sản xuất là phương pháp có thể tạo ra lợi ích kinh tế ngay, có thể đo đếm được, đó là giảm sử dụng năng lượng từ hóa thạch thay bằng năng lượng mặt trời, tiết giảm sử dụng nguyên liệu nguyên sinh đầu vào, giảm phát thải, giảm ảnh hưởng đến môi trường. Làm sao những yếu tố này có thể đo đếm được, ví dụ, giảm dư thừa nguyên liệu trong sản xuất đầu vào.

Ở khía cạnh cầu, xu hướng thế giới cho thấy chi tiêu đang cắt giảm, thị hiếu người dân có nhu cầu sử dụng ít hơn, tức vòng đời của sản phẩm dài hơn, nên khối lượng tiêu dùng trên mỗi đơn vị con người hằng năm giảm.

Tuy nhiên, nhu cầu giảm cũng là bài toán của các doanh nghiệp dệt may, phải tập trung vào các sản phẩm có giá trị, thiết kế chất lượng vòng đời sản phẩm dài hơn, và bền vững để thuyết phục người tiêu dùng.

Reuse trong ngành dệt may tập trung vào kéo dài vòng đời sản phẩm trong chuỗi giá trị. Hiện nay, mô hình Reuse trên thế giới phát triển mạnh ở thị trường hàng secondhand. Do đó, các nhà sản xuất hàng dệt may cần phải suy tính đến việc thiết kế được sản phẩm có vòng đời dài hơn.

VnEconomy

Năm 2019, trước khi có các chương trình hỗ trợ, tỷ lệ xử lý và tái chế rác thải tại Huế còn rất thấp, phát sinh nhiều bất cập trong công tác quản lý đô thị. Sau hơn 6 năm triển khai, dù tình trạng đã có cải thiện nhưng vẫn còn không ít tồn tại. Điều này cho thấy đây là những vấn đề phức tạp, không thể giải quyết bằng các giải pháp ngắn hạn hay bề nổi.

Trong thời gian qua, thành phố Huế đã ban hành nhiều chính sách, chỉ đạo nhằm xử lý các vấn đề môi trường và đô thị. Tuy nhiên, điều quan trọng là phải tiếp cận một cách bài bản, có chiều sâu.

Huế cũng nhận được sự hỗ trợ từ nhiều tổ chức quốc tế như UNDP và các đối tác phát triển trong xây dựng chiến lược hạ tầng xanh và phát triển bền vững.

Với thực tiễn đó, thành phố xác định cần triển khai theo một quy trình chặt chẽ: nghiên cứu, thử nghiệm chính sách, xây dựng chính sách, triển khai, đánh giá và điều chỉnh. Từ năm 2022, với sự hỗ trợ của các tổ chức và chuyên gia quốc tế, Huế đã nghiên cứu về chuyển hóa đô thị. Nghiên cứu chỉ ra 6 nhóm phát thải chính tại Huế, trong đó lĩnh vực xây dựng và vật liệu xây dựng là nguồn phát thải lớn nhất. Các nhóm còn lại gồm: xây dựng - nhà ở; thực phẩm và nông nghiệp; giao thông; quản lý rác thải; dệt may; du lịch.

Từ các nghiên cứu, thành phố đã triển khai nhiều dự án thí điểm và sáng kiến thử nghiệm. Ví dụ: các chương trình giảm rác thải nhựa, thúc đẩy phân loại rác tại nguồn; các dự án chuyển đổi phương tiện giao thông sang xe điện; các mô hình du lịch bền vững, du lịch sinh thái gắn với bảo tồn di sản.

Sau khi Chính phủ ban hành các định hướng về tăng trưởng xanh và trung hòa carbon, Huế đã xây dựng kế hoạch hành động cụ thể cho từng lĩnh vực, phù hợp với điều kiện của địa phương.

Chiến lược phát triển của thành phố hướng đến đô thị xanh, thông minh; bảo tồn di sản; giảm phát thải; sử dụng hiệu quả tài nguyên. Các nội dung này được lồng ghép vào nhiều chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của thành phố. Trong triển khai, Huế đặc biệt chú trọng nâng cao nhận thức cộng đồng, hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp xanh, thu hút đầu tư vào các lĩnh vực thân thiện môi trường và thúc đẩy sự tham gia của người dân.

Ví dụ công tác quản lý rác thải, mỗi chợ trên địa bàn phát sinh khoảng 5 tấn rác/ngày, trong đó khoảng 1,8 tấn có thể tái chế. Tuy nhiên, sau các đợt lũ lớn, lượng rác có thể tăng vọt lên 200 tấn, tạo áp lực lớn cho hệ thống xử lý. Điều này cho thấy giảm phát sinh rác từ gốc quan trọng hơn nhiều so với chỉ tập trung xử lý.

Hiện nay, Huế đã đưa vào vận hành nhà máy xử lý rác công suất khoảng 600 tấn/ngày, đủ khả năng xử lý toàn bộ lượng rác thải sinh hoạt của thành phố sau khi phân loại và tái chế. Nhờ đó, Huế cơ bản không còn phải chôn lấp rác như trước đây.

Trong lĩnh vực công nghiệp, một số nhà máy đã áp dụng công nghệ tiết kiệm nước và năng lượng. Ví dụ, có nhà máy sản xuất bia đã giảm lượng nước sử dụng từ 7-8 lít nước cho một lít bia xuống còn 2,5 lít; giảm tiêu thụ điện năng khoảng 27% nhờ áp dụng công nghệ mới. Trong phát triển khu công nghiệp, thành phố yêu cầu xây dựng mô hình khu công nghiệp xanh, với hệ thống xử lý nước thải tập trung, đảm bảo tiêu chuẩn cao, có thể tái sử dụng cho sinh hoạt và sản xuất.

Thành phố cũng triển khai các mô hình du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng, nghiên cứu phát thải của các loại hình vận chuyển, qua đó khuyến khích các phương thức di chuyển phát thải thấp.

Tất cả các nỗ lực trên hướng mục tiêu nâng cao chất lượng sống, để người dân được hưởng lợi trực tiếp từ hạ tầng xanh, từ quá trình phát triển đô thị bền vững và tăng trưởng xanh của thành phố.

VnEconomy

Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 51-52-2025 phát hành ngày 22-29/12/2025. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:

Link: https://vneconomy.vn/don-doc-tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-5152-2025.htm

VnEconomy
Asko AI Platform

Askonomy AI

...

icon

Thuế đối ứng của Mỹ có ảnh hướng thế nào đến chứng khoán?

Chính sách thuế quan mới của Mỹ, đặc biệt với mức thuế đối ứng 20% áp dụng từ ngày 7/8/2025 (giảm từ 46% sau đàm phán), có tác động đáng kể đến kinh tế Việt Nam do sự phụ thuộc lớn vào xuất khẩu sang Mỹ (chiếm ~30% kim ngạch xuất khẩu). Dưới đây là phân tích ngắn gọn về các ảnh hưởng chính:

VnEconomy