Ngày thứ Ba (13/10), IMF cảnh báo châu Á đã trở thành khu vực có nhiều doanh nghiệp “xác sống” nhất thế giới. Đây là những công ty có lợi nhuận không đủ trang trải chi phí lãi vay trong ít nhất 3 năm, nhưng phần lớn vẫn tồn tại nhờ ngân hàng tiếp tục gia hạn nợ.
Theo IMF, nợ của nhóm doanh nghiệp này đang chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong tổng dư nợ doanh nghiệp tại châu Á.
NỢ NGÀY CÀNG TẬP TRUNG Ở DOANH NGHIỆP “XÁC SỐNG”
Trong Báo cáo Ổn định Tài chính Toàn cầu công bố cùng ngày, các nhà nghiên cứu của IMF dành riêng một phần phân tích tình trạng “xác sống hóa” doanh nghiệp và rủi ro đối với các ngân hàng có năng lực tài chính yếu. Báo cáo tập trung vào những rủi ro hệ thống nghiêm trọng nhất, cùng các mối đe dọa mới đối với hoạt động thông suốt của thị trường.
Theo báo cáo, tại 10 nền kinh tế châu Á, trong đó có Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan, Indonesia và Hàn Quốc, nợ của doanh nghiệp “xác sống” hiện chiếm 21,4% tổng dư nợ doanh nghiệp, so với mức dưới 10% vào năm 2008.
Theo tờ báo Financial Times, tại Nhật Bản, việc ngân hàng gia hạn nợ để duy trì các doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả từng để lại hậu quả nghiêm trọng. Giới phân tích nhìn chung cho rằng việc kéo dài sự tồn tại của hàng nghìn doanh nghiệp này là nguyên nhân gốc rễ dẫn tới những “thập niên mất mát” - giai đoạn kinh tế Nhật Bản đình trệ từ thập niên 1990 - và cuộc khủng hoảng nợ xấu nghiêm trọng vào đầu những năm 2000. Tuy nhiên, báo cáo mới nhất của IMF không đưa ra số liệu về tỷ lệ doanh nghiệp “xác sống” hiện nay tại Nhật Bản.
Đến cuối năm 2025, dư nợ tín dụng của doanh nghiệp tại các nền kinh tế châu Á bình quân tương đương 107% GDP, tăng từ mức 81% trước cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2007. Tỷ lệ này cao hơn đáng kể so với mức bình quân 93% trên toàn cầu và 99% của các nền kinh tế thị trường mới nổi.
“Nợ doanh nghiệp đang ngày càng tập trung ở nhóm công ty không có khả năng trả nợ”, IMF nhận định.
Dù IMF không đánh giá riêng rủi ro của từng nền kinh tế, các phân tích gần đây cho thấy tình trạng “xác sống hóa” doanh nghiệp đang gia tăng nhanh tại Trung Quốc.
Trong một báo cáo về các công ty niêm yết của Trung Quốc, nhóm phân tích của ngân hàng đầu tư Natixis cho biết tỷ lệ doanh nghiệp có doanh thu không đủ trả lãi vay đã tăng từ khoảng 6% năm 2019 lên 12,5% vào tháng 6/2026. Nhóm phân tích do bà Alicia Garcia Herrero, nhà kinh tế trưởng phụ trách khu vực châu Á - Thái Bình Dương và Trung Đông của Natixis, dẫn đầu.
Tỷ lệ này cao gần gấp đôi mức 6,5% trên toàn cầu. Tỷ lệ toàn cầu gần như không thay đổi kể từ năm 2018, dù có biến động nhỏ trong giai đoạn đại dịch Covid-19.
Theo nhóm phân tích, chính sách ưu đãi của chính phủ dành cho doanh nghiệp trong những ngành công nghiệp tiên tiến, như bán dẫn, đã giúp các doanh nghiệp này phát triển nhanh nhưng chưa cải thiện được khả năng sinh lời.
Theo Cục Thống kê Quốc gia Trung Quốc, trong tháng 8, có 29,33% doanh nghiệp có doanh thu hoạt động hàng năm từ 20 triệu nhân dân tệ (khoảng 3 triệu USD) trở lên làm ăn thua lỗ. Tỷ lệ này tăng từ mức 20,8% của cùng kỳ năm 2021.
Trong một phân tích công bố tháng 12/2025, Ngân hàng Dự trữ Liên bang Dallas (Fed Dallas) cho biết ngày càng có nhiều bằng chứng cho thấy các ngân hàng tại Trung Quốc liên tục gia hạn nợ xấu cho doanh nghiệp thua lỗ. Cách làm này giúp doanh nghiệp tiếp tục tồn tại, đồng thời cho phép ngân hàng trì hoãn ghi nhận tổn thất từ các khoản cho vay. Fed Dallas gọi đây là tình trạng “cho vay duy trì doanh nghiệp xác sống”.
Dallas Fed nhận định tình hình tại Trung Quốc có nhiều điểm tương đồng với Nhật Bản trong thập niên 1980 và 1990. Ở cả hai trường hợp, nợ của khu vực tư nhân tăng nhanh, một phần nhờ nguồn tiết kiệm trong nước dồi dào, rồi xuất hiện tình trạng cho vay để duy trì doanh nghiệp “xác sống”.
Theo báo cáo, hoạt động cho vay này khiến vốn được phân bổ kém hiệu quả và làm giảm năng suất, đặc biệt trong các ngành được bảo vệ trước sự cạnh tranh từ nước ngoài.
CÁC NGÂN HÀNG THIẾU VỐN CÓ XU HƯỚNG GIA HẠN NỢ CHO DOANH NGHIỆP "XÁC SỐNG"
Theo IMF, tỷ lệ doanh nghiệp “xác sống” tại Mỹ Latin, châu Âu và châu Phi tương đối thấp. Năm 2024, trung bình khoảng 1/8 số doanh nghiệp tại các khu vực này thuộc nhóm “xác sống”, với dư nợ tập trung ở một số ít khoản vay lớn.
Khi ghi nhận tổn thất từ các khoản cho vay khó thu hồi, ngân hàng sẽ bị giảm vốn. Nếu tiếp tục gia hạn nợ, ngân hàng có thể trì hoãn ghi nhận những tổn thất này, qua đó giữ nguyên các tỷ lệ vốn trên báo cáo. Điều này khiến các ngân hàng thiếu vốn có xu hướng tiếp tục gia hạn nợ cho doanh nghiệp “xác sống”.
Số liệu của IMF tại châu Á cho thấy rõ xu hướng này. Khi so sánh các ngân hàng trong cùng một nền kinh tế châu Á, nhóm có nguồn vốn cốt lõi (vốn cấp 1) thấp hơn có tỷ trọng cho vay doanh nghiệp “xác sống” lớn hơn. Cụ thể, các khoản cho vay này chiếm 16% tổng dư nợ ở nhóm ngân hàng có vốn cấp 1 thấp hơn, so với 12% ở nhóm có vốn cấp 1 cao hơn.
Báo cáo kết luận rằng nếu xử lý nợ của các doanh nghiệp “xác sống” như đối với những doanh nghiệp gặp khó khăn kéo dài, thì đến năm 2025, gần 23% số nợ này tại 10 nền kinh tế châu Á lẽ ra đã được xóa hoặc tái cơ cấu.
Từ dầu mỏ đến máy móc, thiết bị vận tải và hiện nay là chất bán dẫn, phần cứng phục vụ trí tuệ nhân tạo (AI), cơ cấu thâm hụt thương mại của Mỹ đã thay đổi đáng kể trong 35 năm qua…
Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) ngày 13/10 lên tiếng cảnh báo lợi suất trái phiếu chính phủ toàn cầu có thể tăng theo chiều hướng thiếu kiểm soát do lạm phát gia tăng, nợ công chồng chất và nhu cầu vay vốn liên quan đến trí tuệ nhân tạo (AI) đang gây áp lực lớn lên thị trường...
Giá than nhiệt, loại than chủ yếu dùng để sản xuất điện, tại châu Á lên mức cao nhất 2 năm khi các nhà máy điện tăng tích trữ nhiên liệu cho mùa đông, trong bối cảnh nhu cầu ở mức cao và nguồn cung từ Trung Quốc đến Indonesia bị gián đoạn...
Cùng với sự suy yếu của USD, đồng euro đã phục hồi từ mức thấp nhất trong khoảng 17 tháng...
Các số liệu lạm phát nóng lên xuất hiện trong bối cảnh nền kinh tế Trung Quốc giảm tốc...
Giới chuyên gia đánh giá năm 2026 là thời điểm bản lề đối với thị trường bất động sản nghỉ dưỡng. Việc Nhà nước đang đẩy mạnh cải cách thể chế, chính sách để tháo gỡ rào cản về visa, thị thực, thời hạn… sẽ tạo ra các cơ hội, sức hút tốt cho khách du lịch.
Trong 9 tháng năm 2026, Đồng Nai thu hút gần 2,4 tỷ USD vốn FDI, đạt gần 80% kế hoạch năm, với dòng vốn chủ yếu tập trung vào công nghiệp chế biến, chế tạo, công nghiệp hỗ trợ và logistics.