
Tính đến cuối năm 2021, thị trường có gần 1,2 triệu tỷ đồng được doanh nghiệp huy động qua thị trường trái phiếu, chiếm khoảng 12% tổng dư nợ tín dụng toàn nền kinh tế vào khoảng 15% GDP sau điều chỉnh. Theo đó, đây dần trở thành một kênh huy động vốn trung và dài hạn quan trọng cho doanh nghiệp cũng như nền kinh tế nói chung.
Tuy nhiên, đi cùng việc phát triển "nóng" là một loạt những vấn đề phát sinh mà hành lang pháp lý chưa thể bắt nhịp kịp. Điển hình như vừa qua, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước đã phải ra quyết định hủy 9 lô trái phiếu của 3 doanh nghiệp thuộc Tập đoàn Tân Hoàng Minh đã phần nào hé lộ những lỗ hổng và rủi ro có thể xuất hiện trên thị trường.
Theo đó, muốn Chiến lược tài chính đến năm 2030 (quy mô trái phiếu doanh nghiệp năm 2025 đạt 20% GDP và đạt 25% GDP vào năm 2030) hoàn thành đúng kế hoạch thì nhà điều hành phải giải quyết bài toán về định hướng thị trường phát triển bền vững và minh bạch.
Phát biểu tại Diễn đàn “Phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp hiệu quả, bền vững" do Tạp chí Diễn đàn Doanh nghiệp tổ chức, ông Phạm Xuân Hoè, Nguyên Phó Viện trưởng viện chiến lược, Ngân hàng Nhà nước đã chia sẻ 6 nhóm giải pháp để giải bài toán trên.
Thứ nhất, sau những vụ việc liên quan đến pháp lý vừa qua, nhà điều hành đang đưa các quan điểm về thị trường trái phiếu doanh nghiệp theo hướng chuyển từ thái cực mở sang quản lý chặt chẽ.
Điều đó là chưa hợp lý với nguyên tắc thị trường và nếu cứ tiếp tục như vậy, Việt Nam sẽ khó có được một thị trường trái phiếu lành mạnh, hay đạt đến mục tiêu 20% GDP như trong Chiến lược tài chính đề ra.
Vì thế, tổng thể về cách tiếp cận của thị trường phải mở, đảm bảo theo nguyên lý kinh tế thị trường, để cân bằng vốn giữa thị trường dài hạn và ngắn hạn. Đồng thời, phải cân bằng giữa rủi ro và phát triển thị trường.
Thứ hai, trong Dự thảo sửa đổi, bổ sung Nghị định 153 có nói đến hạn mức vay nợ của doanh nghiệp không quá 3 lần so với vốn chủ sở hữu. Tuy nhiên, cách tiếp cận này là chưa phù hợp.
Thực tế cho thấy, Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF) hay Ngân hàng Thế giới (WB) đã khuyến nghị, mức vay nợ tổng thể với doanh nghiệp, bao gồm cả trái phiếu, cổ phiếu, tín dụng vay của các tổ chức khác,... mà mỗi loại hình doanh nghiệp sẽ có câu chuyện hệ số vay nợ khác nhau. Ví dụ ngành thương mại được tài trợ 70% còn 30% là vốn tự có, còn lĩnh vực công nghiệp là 50-50%.
Như vậy, nhà quản lý phải phân tích theo đặc thù ngành nghề để giới hạn, chứ không nên kéo bằng như nhau.
Thứ ba, về minh bạch thông tin, các nhà đầu tư nhỏ lẻ hiện nay hoàn toàn thiếu thông tin trên thị trường trái phiếu doanh nghiệp, trong khi thị trường đã chứng kiến sự bùng nổ trong 2 năm trở lại đây. Vấn đề này cũng bao hàm trách nhiệm của các chủ thể liên quan như doanh nghiệp phát hành, nhà đầu tư, các công ty trung gian dịch vụ nhưng hành lang pháp lý vẫn đang bỏ ngỏ.
Do đó, cần bổ sức nhanh quy định trách nhiệm cụ thể với các chủ thể trên, để nguồn thông tin trên thị trường được minh bạch, có sự ràng buộc, cam kết.
Thứ tư, kiểm soát quá chặt chẽ dòng vốn và mục đích sử dụng vốn của doanh nghiệp phát hành trái phiếu là không khả thi. Bở lẽ, tiền đã vào trong túi doanh nghiệp thì không thể phân biệt “đồng này mua mắm, đồng này mua tương. Nên cơ chế cần có sự thông thoáng, cởi mở nhất định.
Thứ năm, với tầm nhìn dài hạn, thị trường trái phiếu phải có thị trường thứ cấp, tức nhà đầu tư được mua đi bán lại. Kèm theo đó, tất cả các công ty đã phát hành trái phiếu phải được yêu cầu xếp hạng tín nhiệm và chịu trách nhiệm xếp hạng tín nhiệm liên tục.
Khi đã được xếp hạng tín nhiệm thì phải đảm bảo được thanh khoản, bằng cách được các ngân hàng thương mại, các quỹ đầu tư mua đi bán lại trên thị trường. Một cách nữa, đó là dùng doanh nghiệp trái phiếu xếp hạng tốt nhất trên thị trường để tái cấp vốn chiết khấu, nhưng cách này là rất khó...
Thứ sáu, doanh nghiệp xếp hạng tín nhiệm trên thị trường hiện nay còn ít. Vì vậy cần có dòng vốn cho các doanh nghiệp này phát triển, mà quan trọng là Chính phủ nên có ngân sách hỗ trợ các công ty xếp hạng tín nhiệm phát triển ổn định, có đủ tiềm lực mạnh mẽ góp phần thúc đẩy thị trường trái phiếu tăng trưởng.
Ngày giao dịch đầu tiên tại HOSE đối với cổ phiếu niêm yết được chuyển từ HNX vào HOSE là ngày 28/12/2026. Kể từ thời điểm này, toàn bộ cổ phiếu niêm yết được tổ chức giao dịch tại HOSE.
10 cổ phiếu này thuộc các nhóm ngân hàng, công nghệ thông tin, viễn thông, thực phẩm - đồ uống, bán lẻ, xăng dầu, dầu khí và bất động sản.
Lực bán từ từ gia tăng trong phiên chiều nay tiếp tục xác nhận nhu cầu cắt lỗ sẽ phụ thuộc vào diễn biến cổ phiếu cụ thể chứ không phải VNI. Dù điểm số có thể vẫn được neo giữ bằng trụ nhưng danh mục sẽ dẫn tới các phản ứng riêng.
VNPRIVGRO bao gồm 30 cổ phiếu thành phần được lựa chọn từ rổ chỉ số VNAllshare, đáp ứng các tiêu chí sàng lọc về thanh khoản và tỷ lệ sở hữu nhà nước, với tỷ lệ sở hữu của cổ đông nhà nước không vượt quá 15%.
Đà giảm chiều nay không nhanh, cũng không mạnh, mà giống như từ từ trượt dần và không có bất kỳ nỗ lực cản đỡ nào. VN-Index đóng cửa chỉ giảm nhẹ 0,51% nhưng gần trăm cổ phiếu vẫn lỗ hơn 1% giá trị.
Sau hơn 20 năm, ngành gỗ và nội thất Việt Nam đã vươn lên và nằm trong nhóm những trung tâm sản xuất lớn của thế giới. Tuy nhiên, phần lớn doanh nghiệp vẫn tập trung ở khâu sản xuất, trong khi năng lực thiết kế, xây dựng thương hiệu và phát triển thị trường còn hạn chế. Để nâng cao giá trị gia tăng, ngành cần chuyển từ thích ứng sang chủ động kiến tạo và làm chủ chuỗi giá trị toàn cầu.
Sau hơn một thập kỷ không phát hành trái phiếu Chính phủ trên thị trường vốn quốc tế, khả năng Việt Nam trở lại với trái phiếu Chính phủ bằng USD đang thu hút sự quan tâm của giới đầu tư.