
Tiến độ giải phóng mặt bằng khu công nghệ cao Hoà Lạc đang chậm, song các cơ quan chức năng cần rà soát lại chính xác các chính sách về giải phóng mặt bằng để đền bù đúng, đủ cho người dân theo quy định của nhà nước.
Chỉ đạo trên được Bí thư Thành uỷ Hà Nội Phạm Quang Nghị đưa ra tại buổi làm việc với Ban Quản lý khu công nghệ cao Hoà Lạc, ngày 6/8.
Theo ông Phạm Đại Dương, Trưởng ban Quản lý khu công nghệ cao Hoà Lạc, mặc dù đã được Thủ tướng và UBND thành phố Hà Nội tháo gỡ về cơ chế, chính sách trong công tác bồi thường và giải phóng mặt bằng nhưng tiến độ rất chậm, ảnh hưởng đến việc triển khai các dự án, đặc biệt là dự án trường Đại học Khoa học công nghệ Hà Nội và dự án phát triển cơ sở hạ tầng khu công nghệ cao Hoà Lạc.
Khu công nghệ cao Hoà Lạc được Thủ tướng ký quyết định thành lập từ 1998, với tổng diện tích 1.586 ha, được xây dựng theo mô hình thành phố khoa học với đầy đủ các dịch vụ tiện ích và những khu chức năng chính như: khu phần mềm có diện tích 76 ha, khu nghiên cứu và triển khai (R&D) có quy mô 229 ha, khu công nghiệp công nghệ cao có quy mô 549,5 ha được, khu giáo dục và đào tạo có quy mô 108 ha, khu trung tâm, khu dịch vụ tổng hợp…
Tuy nhiên, đến thời điểm này, sau 15 năm triển khai, dự án vẫn chưa hoàn tất khâu giải phóng mặt bằng do nảy sinh nhiều vướng mắc và khiếu kiện trong đền bù đất đai cho người dân.
Hiệ, dự án mới giải phóng mặt bằng 911 ha trên tổng số 1.586 ha. Trong đó, trên 300 ha diện tích mặt bằng sạch đã được giao cho hơn 60 nhà đầu tư trong và ngoài nước…
Trước thực tế công tác giải phóng mặt bằng quá chậm, Bí thư Thành uỷ Phạm Quang Nghị đã khẳng định, Hà Nội sẽ làm hết sức mình để đẩy nhanh tiến độ. Ông cũng đề nghị các sở, ngành liên quan tập trung huy động mọi lực lượng, mọi điều kiện để đẩy nhanh tiến độ với yêu cầu tái định cư cho khu công nghệ cao Hoà Lạc và khẩn trương tháo gỡ các vướng mắc còn lại của cơ chế chính sách; giải quyết một số vấn đề như: nguồn gốc đất; quy hoạch các dự án thành phần…
Đặc biệt, lãnh đạo Hà Nội yêu cầu cơ quan chức năng cần rà soát lại chính xác các chính sách về giải phóng mặt bằng để đền bù đúng, đủ cho người dân theo quy định của nhà nước; phải công khai minh bạch các chế độ về giải phóng mặt bằng cho người dân biết, để thực hiện và giám sát quá trình thực hiện.
Bên cạnh thực hiện đầy đủ các chính sách đền bù giải phóng mặt bằng, các huyện cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động để người dân đồng thuận, chấp hành việc di dời, dành đất cho khu công nghệ cao.




TP.Hồ Chí Minh đang xây dựng cơ chế phát hành trái phiếu đô thị, trái phiếu công trình qua Trung tâm Tài chính Quốc tế, hướng tới hình thành chương trình huy động vốn trung và dài hạn cho các dự án hạ tầng trọng điểm...
Sau kế hoạch chuyển toàn bộ cổ phiếu niêm yết về Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HoSE), cơ quan quản lý tiếp tục tính toán phương án tổ chức lại cách vận hành thị trường với nhiều thay đổi như giao dịch xuyên trưa, nới biên độ dao động giá và rút ngắn thời gian thanh toán…
Quy mô thị trường trái phiếu xanh Việt Nam vẫn còn rất nhỏ so với quy mô tín dụng xanh, trong khi nhiều dự án chuyển đổi xanh cần nguồn vốn trung và dài hạn. Kinh nghiệm của Hàn Quốc, Singapore và Nhật Bản cho thấy Nhà nước có thể hỗ trợ những chi phí đang cản trở doanh nghiệp bước vào thị trường vốn xanh.
Việt Nam đang bước vào một giai đoạn phát triển mới, có yêu cầu về nguồn lực cho tăng trưởng sẽ lớn hơn, dài hạn hơn và đa dạng hơn đáng kể so với trước. Khi mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2026–2030 được đặt ở mức từ 10%/năm trở lên, cùng với yêu cầu tổng vốn đầu tư toàn xã hội bình quân khoảng 40% GDP, câu hỏi đặt ra không còn đơn thuần là nền kinh tế cần thêm bao nhiêu vốn, mà là nguồn lực đó sẽ được huy động từ đâu, dẫn truyền qua kênh nào và phân bổ như thế nào để tạo ra hiệu quả tăng trưởng cao nhất?
Sau hơn một thập kỷ không phát hành trái phiếu Chính phủ trên thị trường vốn quốc tế, việc Việt Nam nghiên cứu khả năng phát hành trái phiếu Chính phủ bằng USD đang thu hút sự quan tâm của thị trường. Nếu phương án này được thông qua và triển khai, đợt phát hành mới không chỉ mở lại một kênh huy động vốn mà còn là cơ hội để Việt Nam tái thiết lập đường cong lợi suất chuẩn, mở rộng cơ sở nhà đầu tư quốc tế và tạo điểm tham chiếu cho các đợt phát hành trái phiếu tiếp theo trên thị trường quốc tế.
Việt Nam luôn cần vốn ngoại để mở xưởng, tạo việc làm, thúc đẩy xuất khẩu và kết nối toàn cầu. Bước sang năm 2026, khi vị thế kinh tế đã khác, thu hút FDI của Việt Nam đòi hỏi chuẩn mực khắt khe hơn: phải xanh, số hóa, công nghệ cao, có sức lan tỏa và giúp Việt Nam từng bước làm chủ, tiến tới sở hữu công nghệ gốc.
Thực tế, sau 9 tháng năm 2026, dù kinh tế ghi nhận nhiều kết quả tích cực, chỉ có 12/34 tỉnh, thành phố đạt mức tăng trưởng hai con số. Bài toán đặt ra không chỉ là huy động thêm nguồn lực, mà còn là nâng cao năng lực thực thi và chuyển hóa nguồn lực thành giá trị thực chất.