Tốt nghiệp khoa Công trình thủy Trường Đại học Bách khoa TP.Hồ Chí Minh, ông ra trường và được nhận làm tại Sở Thủy lợi Sông Bé (trước đây). Vậy cơ duyên nào đưa ông tới với những chiếc nút áo?
Thập niên 1980, đời sống kinh tế của đất nước mình còn nhiều khó khăn. Sau khi lập gia đình, đặc biệt là lúc có hai con gái sinh đôi, áp lực kinh tế buộc tôi phải đưa ra một quyết định lớn: rời công việc ổn định để về Sài Gòn tìm hướng đi mới, gần nhà hơn và có cơ hội phát triển hơn.
Thời gian đầu, tôi học thêm tiếng Anh, sau đó thi đậu vào lớp Nhật ngữ có học bổng. Sau đó, tôi vào làm việc cho một công ty Nhật Bản chuyên sản xuất nút áo từ vỏ ốc, đảm nhận vai trò phiên dịch tiếng Nhật, rồi phó giám đốc công ty. Ba năm làm việc tại đây giúp tôi học hỏi được rất nhiều – từ kỹ thuật, quản lý đến tư duy sản xuất của người Nhật, đó chính là nền tảng cho con đường khởi nghiệp của tôi sau này.
Thuở ban đầu ấy, thị trường trong nước đón nhận sản phẩm nút áo vỏ ốc của ông như thế nào?
Khi làm việc trong công ty Nhật, tôi mới hiểu rõ giá trị của nút áo làm từ vỏ ốc – một sản phẩm cao cấp, thân thiện môi trường nhưng lúc đó ở Việt Nam gần như không ai biết, kể cả các doanh nghiệp may xuất khẩu. Khi khởi nghiệp, tôi nghĩ rất đơn giản: sản phẩm tốt thì doanh nghiệp sẽ dùng. Tôi trực tiếp mang mẫu đi chào hàng từ doanh nghiệp lớn đến nhỏ tại TP.Hồ Chí Minh. Nhưng hầu như tất cả đều còn xa lạ, nhiều nơi từ chối thẳng vì “không hiểu sản phẩm”.
Không thể trông chờ vào thị trường trong nước, tôi quay lại tìm những khách hàng nước ngoài quen biết trước đây. May mắn, có hai khách hàng đồng ý đặt hàng thử. Họ góp ý rất chi tiết, thậm chí bay sang tận nơi để chỉ vẽ từng công đoạn hoàn thiện sản phẩm. Có những hợp đồng ban đầu giá trị còn không bằng tiền điện thoại quốc tế họ gọi cho tôi trong quá trình làm việc, nhưng đó là những bài học vô giá mà tôi không bao giờ quên.
Mới nghe qua có vẻ giống đồ thủ công mỹ nghệ, nhưng những chiếc nút áo này thật ra là một sản phẩm công nghiệp, phải không thưa ông?
Nút áo làm từ vỏ ốc là sản phẩm từ nguyên liệu thiên nhiên, nhưng lại được sử dụng trong ngành may mặc cao cấp – nơi đòi hỏi độ chính xác của một sản phẩm công nghiệp: màu sắc, độ bóng, độ dày, hình dáng, đường kính lỗ… tất cả đều phải đồng nhất và tinh xảo. Chính vì vậy, để hoàn thiện một chiếc nút đạt chuẩn, phải trải qua trên dưới 20 công đoạn khác nhau, mỗi công đoạn đều đòi hỏi sự tỉ mỉ và kiểm soát nghiêm ngặt.
Tôi vốn xuất thân là dân kỹ thuật nên nhìn vào máy móc sản xuất cúc áo, tôi thấy không quá phức tạp. Trong khi nhìn những vỏ sò trắng ngà, mỗi vỏ trai ánh xà cừ tôi đều thấy rung động, như thể chúng đều ẩn chứa cuộc mưu sinh nhọc nhằn của người dân biển. Tôi nhập một số thiết bị từ Ý, sau đó tự điều chỉnh lại cho phù hợp, từ mũi kim, tốc độ chạy cho đến từng chi tiết vận hành. Làm thành công đơn hàng đầu, tôi được đối tác giới thiệu cho những doanh nghiệp khác. Tiếng lành cứ thế lan xa, sản phẩm Việt Nam bước ra thị trường thế giới.
Về giá thành, chúng ta không thể vượt qua các nhà sản xuất tại “công xưởng của thế giới” như Trung Quốc. Làm thế nào để những chiếc nút áo Tôn Văn được các đối tác lớn của ngành thời trang thế giới chấp nhận?
Ưu thế của Trung Quốc là năng suất và giá thành. Khi họ cạnh tranh bằng số lượng, chúng tôi chọn con đường cạnh tranh bằng chất lượng. Chúng tôi có phong cách quản lý nghiêm khắc và tinh thần chăm chút từng chi tiết, kể cả những phần khách hàng không nhìn thấy. Đội ngũ kỹ thuật được rèn luyện thói quen làm việc nghiêm túc đến mức có yêu cầu với chất lượng thấp hơn cũng không quen làm (cười).
Nhờ vậy, suốt 30 năm qua, khách hàng của Tôn Văn luôn gắn bó và tin tưởng. Có khách nói vui rằng: “Tôn Văn đã nhận làm thì có thể kê cao gối ngủ”. Đó thật sự là một niềm vui lớn của người sản xuất. Đối tác yêu cầu rất nhiều điều khắt khe, từ môi trường nuôi trồng, thiết bị máy móc, quy định sử dụng người lao động, không gian làm việc, chất nhuộm màu, tất cả đều cần giấy tờ hợp pháp đầy đủ. Tôi luôn nghĩ: Thế giới làm được, tại sao mình không?
Trong thế giới thời trang cao cấp, chiếc nút được thiết kế riêng với số lượng có hạn đôi khi trở thành “chữ ký” riêng biệt cho từng khách hàng…?
Đúng vậy, nhiều thương hiệu dùng nút áo như một cách nhận diện hoặc chống hàng giả. Lacoste luôn dùng nút vỏ ốc. Hugo Boss dùng nút bốn lỗ hình vuông. Van Laack dùng nút ba lỗ hình tam giác… Có một lần, tôi nhận được đơn đặt hàng từ đối tác Tây Ban Nha. Họ yêu cầu sản xuất cúc áo với lỗ xâu chỉ hình vuông, bốn lỗ. Nghe thì tưởng chừng đơn giản, nhưng thực tế lại là một “bài toán hóc búa”. Nguyên tắc khoan lỗ luôn cần mũi khoan tròn, nhọn mới có thể xuyên thủng nguyên liệu. Với hình vuông, mọi quy luật cơ khí thông thường gần như trở nên vô nghĩa.
Tôi phải tự mày mò, thử nghiệm đủ kiểu. Tốn kém nhiều, áp lực lớn. Cuối cùng, khi những chiếc cúc áo với lỗ vuông tinh xảo được khách hàng gật đầu, tôi cảm thấy đó là một chiến thắng. Không chỉ là thành công của một đơn hàng, mà còn là niềm kiêu hãnh của người thợ Việt.
Nhìn lại hành trình 30 năm qua với nhiều đổi mới của ngành phụ kiện sản xuất may mặc, ông nghĩ sao về tiềm năng sản xuất “chuẩn haute couture” ngay tại Việt Nam?
Tôi thấy có nhiều nước giàu lên nhờ sản xuất, đặc biệt là các doanh nghiệp gia đình tồn tại hàng trăm năm như ở Nhật Bản, Ý, Pháp. Ở Việt Nam, lĩnh vực sản xuất chưa nhận được sự quan tâm đúng mức, trong khi tay nghề thủ công bậc cao phát triển mạnh ở các làng nghề khắp đất nước. Tôi cho rằng sau này, khi đời sống tốt hơn, giáo dục và hạ tầng được cải thiện, Việt Nam hoàn toàn có thể thoát khỏi vai trò “điểm gia công” để trở thành một mắt xích giá trị cao trong chuỗi toàn cầu.
Với hàng hóa cao cấp, dù mỗi năm đều có cải tiến, ứng dụng công nghệ mới để nâng cao năng suất và chất lượng, nhưng bàn tay con người vẫn không thể thay thế. Người công nhân Việt Nam rất khéo tay. Dù không trực tiếp tham gia thiết kế, họ có thể “đọc vị” được ngôn ngữ của nhà thiết kế để tạo ra những sản phẩm đạt hoặc vượt mong đợi. Đó là sự đóng góp thầm lặng nhưng vô cùng quan trọng.
Ông có thích thú với tên gọi "vua cúc áo" Việt Nam mà mọi người hay gọi mình không?
Nhờ ứng dụng công nghệ, số lao động hiện có tại Tôn Văn đã giảm so với trước đây, nhưng điều kiện làm việc tốt hơn, công việc nhẹ nhàng hơn. Sản lượng vẫn duy trì khoảng 200.000 nút áo mỗi ngày. Điều đó làm tôi vui. Còn danh xưng “vua cúc áo” hay “trùm sò” chỉ là những cách gọi thân thương của bạn bè, đồng nghiệp. Việc đáng vui hơn nữa là các con tôi – Tôn Nữ Xuân Quyên và Tôn Thế Văn – chịu theo nghề cha. Thực tế là có nhiều doanh nghiệp lớn không chuyển giao được cho thế hệ sau, nên với tôi, đó là một may mắn.
Tôi thường căn dặn các con phải giữ trọn chữ tín, đặc biệt khi làm việc với đối tác nước ngoài. Ở họ, không có khái niệm “lý do”, chỉ có “giải pháp”. Tôi cũng hay nói với các con rằng quan điểm làm ăn của tôi chưa bao giờ thay đổi: Chỉ cần cố gắng làm tốt nhất, lợi nhuận sẽ tự tìm đến sau. Con đường này có thể khó hơn, chậm rãi hơn, nhưng tôi tin đó là cách duy nhất để giữ được trái tim mình bình yên trong từng thương vụ.
Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 7+8-2026 phát hành ngày 16-23/02/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-78-xuan-binh-ngo.html
Trong cuộc trao đổi với Tạp chí Kinh tế Việt Nam / VnEconomy, GS.Christopher S. Yoo, Trường Luật Carey thuộc Đại học Pennsylvania (Penn Carey Law), cho rằng Việt Nam đang đối mặt với nhiều thách thức, nhưng là những “thách thức tốt”, bởi chúng xuất phát từ một nền kinh tế đang phát triển nhanh và có nhiều cơ hội.
Không chỉ được sử dụng để gia tăng tốc độ và quy mô tấn công, trí tuệ nhân tạo (AI) đang trở thành mục tiêu mới của tội phạm mạng, với chatbot và các hệ thống AI được doanh nghiệp tích hợp có thể trở thành “cửa ngõ” để hacker tiếp cận hệ thống phía sau. Trao đổi với Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, ông Ngô Tấn Vũ Khanh, Giám đốc Quốc gia Kaspersky tại Việt Nam, cho rằng cuộc chiến an ninh mạng đang bước sang giai đoạn mới, khi AI vừa là công cụ tấn công, công cụ phòng thủ và đồng thời là mục tiêu bị tấn công.
Nuôi biển đang nổi lên như một động lực tăng trưởng mới của ngành thủy sản, với sản lượng và giá trị xuất khẩu tăng mạnh. Tuy nhiên, để phát triển quy mô lớn, hiện đại và bền vững, Việt Nam cần tháo gỡ các điểm nghẽn về hạ tầng, tín dụng, công nghệ, con giống và quyền sử dụng mặt biển.
Năm 2026 đánh dấu 10 năm kể từ khi Bản sửa đổi, bổ sung Kigali thuộc Nghị định thư Montreal được thông qua, mở ra một giai đoạn mới trong nỗ lực toàn cầu bảo vệ tầng ozone và ứng phó với biến đổi khí hậu. Với việc đưa các chất HFC- những khí nhà kính có tiềm năng làm nóng lên toàn cầu cao - vào lộ trình giảm dần, Bản sửa đổi, bổ sung Kigali đã thúc đẩy quá trình chuyển đổi công nghệ trong lĩnh vực lạnh và điều hòa không khí theo hướng có tác động thấp hơn tới khí hậu...
Việc quản lý, loại trừ các chất làm suy giảm tầng ozone và các chất gây hiệu ứng nhà kính, đồng thời thúc đẩy làm mát bền vững, cần được đặt trong một bài toán tổng thể với cách tiếp cận mới và các giải pháp đồng bộ. Làm mát bền vững là bài toán liên ngành, liên quan đến nhiều bộ, ngành và địa phương...
Nhân Ngày Quốc tế Bảo vệ tầng ô-dôn năm 2026 và kỷ niệm 10 năm Bản sửa đổi, bổ sung Kigali được thông qua, Cục Biến đổi khí hậu, Bộ Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam và Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy tổ chức Chương trình tọa đàm “Hành động toàn cầu vì một hành tinh mát lành hơn”. Tọa đàm được phát trực tuyến trên trên VnEconomy.vn và FanPage VnEconomy vào 9h ngày 14/9/2026...
Cơ quan Bảo hiểm xã hội Việt Nam (Bộ Tài chính) vừa yêu cầu tăng cường rà soát, chấn chỉnh hoạt động của các tổ chức phát triển đối tượng tham gia Bảo hiểm xã hội tự nguyện, Bảo hiểm y tế; quản lý chặt chẽ nguồn thu, phòng ngừa lạm dụng và trục lợi quỹ bảo hiểm gây ảnh hưởng tiêu cực đến quyền lợi của người dân.