Thưa Bộ trưởng, sau một năm nhìn lại những giải pháp đã thực hiện, Bộ trưởng nhận thấy môi trường đầu tư – kinh doanh đã có những chuyển biến ra sao?
Trong năm qua, Chính phủ đã tập trung thực hiện ba đột phá chiến lược, nhất là về thể chế; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền; cải cách môi trường kinh doanh, trong đó chú trọng hoàn thiện, đảm bảo tính đồng bộ và nâng cao chất lượng pháp luật, bãi bỏ và đơn giản hóa thủ tục hành chính. Các động lực tăng trưởng truyền thống tiếp tục được duy trì và củng cố; động lực tăng trưởng mới (như kinh tế số, kinh tế tuần hoàn, đổi mới sáng tạo,…) được khuyến khích phát triển. Đầu tư công tiếp tục được coi trọng, là trụ cột tăng trưởng và dẫn dắt sự phát triển của khu vực tư nhân.
Đặc biệt, một số giải pháp được tăng cường như: Thành lập Ban Chỉ đạo rà soát, xử lý vướng mắc trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật; phát huy hiệu quả vai trò các Tổ công tác của Thủ tướng Chính phủ và các đoàn công tác của Thành viên Chính phủ nhằm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc về thể chế, chính sách và thực thi, nhất là đối với các dự án đầu tư.
Với những nỗ lực cải thiện môi trường kinh doanh, nhiều tổ chức quốc tế lớn, có uy tín đánh giá cao kết quả đạt được và nâng hạng năng lực cạnh tranh của nước ta. Cụ thể là: Moody và S&P đánh giá Việt Nam là một trong hai quốc gia ở châu Á được ghi nhận cải thiện chỉ số tín dụng dài hạn ở mức ổn định, tích cực. JETRO xếp hạng Việt Nam về địa điểm hấp dẫn đầu tư ở vị trí thứ 2 thế giới và thứ 1 châu Á. EuroCham cũng đánh giá Việt Nam thuộc nhóm 10 điểm đến đầu tư toàn cầu.
Nhờ vậy, năm 2024, chỉ số Phát triển Chính phủ điện tử của Việt Nam được Liên hợp quốc xếp thứ 71, tăng 15 bậc so với xếp hạng trước đó (năm 2022). So với năm 2023, chỉ số Tự do kinh tế cải thiện 13 bậc, lên thứ hạng 59; chỉ số Đổi mới sáng tạo toàn cầu tăng 2 bậc, lên vị trí 44, trong đó có 3 chỉ số đứng đầu thế giới. Ngoài ra, Việt Nam là 1 trong 46 quốc gia được xếp vào Nhóm 1 về chỉ số An toàn thông tin mạng năm 2024.
Để thực hiện ở mức cao nhất có thể các mục tiêu đặt ra cho năm cuối nhiệm kỳ, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 01 về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển Kinh tế - xã hội năm 2025 và nghị quyết 02 về cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh. Các nghị quyết này có điểm gì khác so với trước để thúc đẩy các động lực tăng trưởng, thưa Bộ trưởng?
Nghị quyết số 02 là một chương trình riêng của Chính phủ về cải cách môi trường kinh doanh, được ban hành và thực hiện thường niên. Điều này thể hiện sự quan tâm, ưu tiên trong chỉ đạo, điều hành của Chính phủ. Nghị quyết số 02 bao gồm các giải pháp ngắn hạn (có thể thực hiện ngay) và cả các giải pháp dài hạn. Vào năm đầu nhiệm kỳ, Nghị quyết được thiết kế tổng thể với mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp cho giai đoạn 5 năm. Những năm tiếp theo, Nghị quyết xây dựng ngắn gọn hơn, với các trọng tâm ưu tiên theo năm.
Nghị quyết số 02 năm 2025 là sự tiếp nối của các Nghị quyết số 02 trước đây. Theo đó, Nghị quyết: (i) bám sát định hướng cơ bản về cải cách, cải thiện môi trường kinh doanh đề ra tại Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2021-2030; (ii) lựa chọn các nhóm vấn đề trọng tâm cải cách trong năm 2025, trong đó bao gồm các giải pháp khắc phục những hạn chế, những nút thắt chưa được giải quyết.
Việc bổ sung, mở rộng, cụ thể hóa các mục tiêu, giải pháp trọng tâm thực hiện trong năm 2025 đảm bảo phù hợp với bối cảnh mới; phù hợp với thực tiễn triển khai các giải pháp; khắc phục những bất cập đang tạo rào cản đối với doanh nghiệp và người dân; góp phần hỗ trợ doanh nghiệp phục hồi và phát triển. Cách thiết kế này thể hiện cách tiếp cận nhất quán, xuyên suốt, có tính hệ thống; nhưng vẫn đảm bảo tính cập nhật, thực tiễn và linh hoạt trong thực hiện cải cách, cải thiện môi trường kinh doanh.
Nhằm khơi thông và thúc đẩy các động lực tăng trưởng để đạt được các mục tiêu đặt ra cho năm 2025 và cho cả nhiệm kỳ, Nghị quyết về cải thiện môi trường kinh doanh lựa chọn 5 nhóm vấn đề và nội dung trọng tâm cải cách, bao gồm: (1) tháo gỡ bất cập về pháp lý và thực thi trong thực hiện dự án đầu tư; (2) nâng cao chất lượng danh mục ngành nghề đầu tư, kinh doanh có điều kiện và điều kiện kinh doanh; (3) đổi mới công tác quản lý, kiểm tra chuyên ngành đối với hàng hóa và triển khai hiệu quả Cổng thông tin một cửa quốc gia; (4) tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, liên thông, chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan nhà nước để nâng cao hiệu quả giải quyết thủ tục hành chính; (5) nâng cao chất lượng các dịch vụ phát triển kinh doanh.
Cùng với việc ban hành các nghị quyết trên, trong năm 2025, nhiều quy định pháp luật và các cơ chế, chính sách mới cũng có hiệu lực. Bộ trưởng kỳ vọng gì vào sự tăng tốc của nền kinh tế khi môi trường đầu tư – kinh doanh được đánh giá thông thoáng và cởi mở hơn?
Nhằm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc về thể chế, chính sách và thực thi, nhất là đối với các dự án đầu tư, Chính phủ đã đề xuất Quốc hội sửa đổi một số văn bản pháp lý. Tại kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XV, Quốc hội đã thông qua Luật Đầu tư công (sửa đổi); Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quy hoạch, Luật Đầu tư, Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư (PPP) và Luật Đấu thầu.
Trong đó, một số sửa đổi đáng chú ý như điều chỉnh quy hoạch theo trình tự, thủ tục rút gọn; thành lập Quỹ Hỗ trợ đầu tư từ nguồn thu thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu và nguồn hợp pháp khác để ổn định môi trường đầu tư, khuyến khích, thu hút nhà đầu tư chiến lược, tập đoàn đa quốc gia và hỗ trợ doanh nghiệp trong nước đối với một số lĩnh vực cần khuyến khích đầu tư; quy định cụ thể hơn về thủ tục đầu tư đặc biệt, lựa chọn nhà đầu tư trong trường hợp đặc biệt…
Những luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 15/1/2025 sẽ tháo gỡ được một số điểm nghẽn về thể chế đầu tư; góp phần tạo lập môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi, chi phí thấp, giảm rủi ro cho nhà đầu tư, doanh nghiệp và nhờ vậy khuyến khích được tinh thần kinh doanh và các động lực tăng trưởng. Nguồn lực đầu tư, nhất là đầu tư công được khơi thông sẽ tạo tác động lan tỏa tới khu vực kinh tế tư nhân và thúc đẩy các nguồn lực khác trong nền kinh tế. Những cải cách pháp lý này được kỳ vọng đóng góp hiệu quả cho việc thực hiện các mục tiêu tăng trưởng và phát triển kinh tế.
Trước đây, chúng ta đã từng cải cách mạnh mẽ môi trường kinh doanh. Trong bối cảnh hiện nay, cùng với việc tinh gọn bộ máy cơ quan quản lý, cải cách môi trường kinh doanh, theo Bộ trưởng, nên tập trung vào những vấn đề nào?
Một trong những nỗ lực cải cách môi trường kinh doanh thời gian qua được ghi nhận hiệu quả rõ ràng là việc cắt giảm nhiều điều kiện kinh doanh bất hợp lý, không rõ ràng, không cần thiết cho doanh nghiệp. Tuy vậy, hoạt động quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp còn phức tạp, đan xen, nhiều tầng nấc thuộc chức năng quản lý của nhiều cơ quan khác nhau. Vì vậy, tuy điều kiện kinh doanh, thủ tục hành chính đã được cắt giảm, nhưng doanh nghiệp vẫn phải thực hiện thủ tục ở nhiều cơ quan khác nhau, dẫn tới chi phí tuân thủ vẫn còn cao.
Các đề án tinh gọn bộ máy cơ quan quản lý đang soạn thảo mới đây được kỳ vọng sẽ tháo gỡ được các nút thắt về quản lý chồng chéo, đan xen, nhiều tầng nấc. Tuy vậy, để thực hiện hiệu quả cải cách môi trường kinh doanh trong bối cảnh này, cần đảm bảo các nhân tố như: (i) sự quan tâm, coi trọng, chỉ đạo của người đứng đầu; (ii) tại mỗi bộ, cơ quan, thu gọn đầu mối quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư, kinh doanh của doanh nghiệp; (iii) rà soát, tích hợp các thủ tục hành chính, hướng tới doanh nghiệp chỉ cần thực hiện thủ tục tại “Một cửa”; đồng thời thủ tục được thực hiện trên môi trường điện tử; (iv) tập trung nâng cao năng lực giám sát trách nhiệm thực thi công vụ; và (v) duy trì nỗ lực cải cách thường xuyên, liên tục.
VnEconomy 29/01/2025 13:00
Nội dung đầy đủ của bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 4 5-2025 phát hành ngày 27/1/2025. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
https://postenp.phaha.vn/tap-chi-kinh-te-viet-nam/detail/1194
Luật Công nghiệp công nghệ số đã mở rộng phạm vi nhân lực công nghệ số chất lượng cao, không chỉ bao gồm người Việt Nam (cả trong và ngoài nước) mà còn cả chuyên gia nước ngoài đáp ứng các tiêu chí do Chính phủ Việt Nam quy định. Để thu hút lực lượng này, luật đưa ra hàng loạt chính sách ưu đãi...
Sau nửa thế kỷ phát triển, Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam (VINATOM) không chỉ góp phần đưa công nghệ hạt nhân vào y tế, nông nghiệp, công nghiệp và môi trường mà còn đang chuẩn bị nguồn nhân lực, công nghệ và hạ tầng để đồng hành cùng Chương trình điện hạt nhân quốc gia trong giai đoạn mới.
Chỉ còn chưa đầy 6 tháng trước khi Quy định chống mất rừng của Liên minh châu Âu (EUDR) được thực thi đầy đủ. Thách thức lớn nhất hiện nay không nằm ở tiêu chuẩn kỹ thuật mà ở tư duy, sự minh bạch và khả năng phối hợp giữa các doanh nghiệp. Vì vậy, việc xây dựng dữ liệu vùng nguyên liệu chính xác là điều kiện tiên quyết để bảo vệ uy tín của ngành cà phê Việt Nam trên thị trường quốc tế.
Nhu cầu nhà ở của đại đa số người dân lao động tại đô thị rất lớn nhưng nguồn cung nhà ở giá phù hợp lại vô cùng hạn chế. Trong khi đó, vẫn có nhiều khu đô thị bị bỏ hoang và hàng ngàn dự án vẫn “đắp chiếu” do vướng mắc pháp lý, tương đương với hàng triệu tỷ đồng đang bị “chôn” vào đất; quy hoạch đất đai cũng còn không ít bất cập; doanh nghiệp bất động sản gặp nhiều khó khăn trong quá trình triển khai dự án…
Với tổng vốn đầu tư lũy kế hơn 80 tỷ USD, Nhật Bản không chỉ là đối tác kinh tế hàng đầu mà còn là người bạn đồng hành tin cậy của Việt Nam qua nhiều thập kỷ. Trong bối cảnh Việt Nam đang quyết liệt chuyển dịch sang mô hình tăng trưởng mới dựa trên khoa học - công nghệ và chuyển đổi xanh, dư địa hợp tác giữa hai nước đang ngày càng mở rộng, đặc biệt là sau chuyến thăm Việt Nam vào tháng 5/2026 của Thủ tướng Nhật Bản Takaichi Sanae.
Dưới tác động của biến đối khi hậu, tình trạng thời tiết, thiên tai diễn biến bất thường, cực đoan hơn, đòi hỏi công tác dự báo, cảnh báo sớm, giúp các ngành, địa phương và người dân chủ động ứng phó, giảm thiểu thiệt hại. Đặc biệt với các hiện tượng khí hậu như El Nino, ông Hoàng Đức Cường cho rằng khi nhận diện sớm nguy cơ, dự báo cảnh báo sớm sẽ giúp có thời gian chủ động lên kế hoạch sớm, có các giải pháp ứng phó, góp phần giảm thiểu ảnh hưởng, tác động đến hoạt động sản xuất và đời sống sinh hoạt của người dân.
Trong lĩnh vực y tế, Việt Nam đã làm chủ công nghệ điều chế các chủng loại đồng vị và dược chất phóng xạ phục vụ y học hạt nhân. Khoa học hạt nhân nước ta đã phát triển các dược chất phóng xạ thế hệ mới để chẩn đoán và điều trị ung thư. Đây là những bước tiến vượt bậc trong nỗ lực đưa năng lượng nguyên tử vào phục vụ dân sinh.