
Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã đưa ra hai kịch bản tăng trưởng cho quý 4/2021 cũng như cả năm 2021. Tăng trưởng GDP ở các kịch bản thứ nhất và thứ hai lần lượt ở các mức 3% và 3,5%; tương ứng với đó, tăng trưởng GDP quý 4/2021 sẽ phải ở các mức 7,06% và 8,84%.
Việc đạt mức tăng trưởng tới 8,84% trong quý 4 là rất khó khả thi, nhất là trong bối cảnh nhiều doanh nghiệp vẫn chưa hoàn toàn quay trở lại trạng thái “bình thường mới”, công suất hoạt động không đạt được 100% và một lượng lao động không nhỏ đã dịch chuyển về quê…
Vì vậy, tăng trưởng GDP năm nay có thể chỉ đạt 3%, chưa bằng nửa mục tiêu tăng trưởng năm đặt ra trước đó. Và đây sẽ là năm thứ hai liên tiếp không đạt được mục tiêu tăng trưởng do những tác động nghiêm trọng của dịch Covid-19 tới nền kinh tế.
Kinh tế thế giới phục hồi nhanh ở nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt ở những quốc gia phát triển và Trung Quốc. Điều này có lợi cho Việt Nam vì đây đều là những đối tác lớn trong đầu tư và thương mại.
Về tình hình trong nước, đây là năm thứ hai liên tiếp Việt Nam không đạt mục tiêu tăng trưởng GDP. Vì vậy, muốn phục hồi và đạt được mục tiêu tăng trưởng như Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm giai đoạn 2021-2025 đề ra, chúng ta phải nhìn thẳng và đánh giá thực chất hơn những vấn đề của nền kinh tế. Bởi áp lực tăng trưởng dồn vào 4 năm tới là rất lớn khi phải đạt mức tăng trưởng trung bình 7-7,5%/năm. Trong đó, nền kinh tế sẽ phải tăng tốc rất nhanh trong ba năm từ 2022-2024.
Ở các quốc gia phát triển, họ có thể phục hồi rất nhanh cho dù tốc độ tăng GDP giảm, thậm chí âm do Covid-19 nhưng thu nhập của người dân không đổi nên cầu vẫn bùng nổ sau đại dịch.
Việt Nam hoàn toàn khác. Nền kinh tế bị tổn thất trong đại dịch, nhiều ngành tê liệt và hàng triệu lao động bị mất việc làm. Cầu giảm rất mạnh cả trong và sau đại dịch. Vì vậy, năng lực phục hồi của nền kinh tế rất yếu cả về phía cung và cầu.
Không chỉ vậy, đại dịch còn khiến cơ cấu kinh tế, lao động, phân bổ nguồn lực bị đảo lộn rất mạnh, đặc biệt ở vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. Hàng trăm nghìn lao động đã dịch chuyển về quê khó có thể trở lại làm việc trong một thời gian ngắn.
Năng lực và nguồn lực đã bị xói mòn nghiêm trọng. Các động lực tăng trưởng chủ yếu (trừ xuất khẩu) đã yếu đi một cách đáng kể. Ba vùng động lực vốn đã mất động lực, nay lại thiệt hại nghiêm trọng.
Vì vậy, chúng ta phải nhanh chóng xây dựng chương trình phục hồi và đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng trong những năm tới. Trong đó, chương trình này cần phải đánh giá bối cảnh bên trong một cách thẳng thắn để báo động về một viễn cảnh không sáng trong giai đoạn tới.
So với giai đoạn 1999 và 2011, dư địa chính sách hiện nay của chúng ta vẫn còn và tốt hơn nhiều. Lạm phát thấp và ổn định. Hệ thống tài chính tuy còn rủi ro nhưng vững và tốt hơn trước. Bội chi ngân sách và nợ công vẫn trong ngưỡng cho phép, chủ yếu là “ta trói ta” chứ không phải là ta không có dư địa.
Cán cân đối ngoại giữ vững, dự trữ ngoại tệ trên 100 tỷ USD, tăng gấp 4-5 lần so với thời kỳ trước. Dư địa chính sách còn hay không chủ yếu do chúng ta quan niệm. Tại thời điểm này, chúng ta phải chi mạnh để hỗ trợ người dân, doanh nghiệp và cả nền kinh tế.
Về chính sách tiền tệ, ngoài chính sách giảm lãi suất, chúng ta có thể mở cung tiền, tăng tín dụng và có gói tín dụng đặc biệt.
Tôi cho rằng có mấy điểm cần lưu ý. Đó là tiếp tục tổ chức sản xuất, cuộc sống xã hội và quản lý nhà nước an toàn, thích ứng linh hoạt với dịch bệnh. Nhưng sinh kế và sinh mạng là hai mặt của một vấn đề, bổ sung, củng cố cho nhau, không thể tách rời.
Đồng thời nhanh chóng phục hồi lại, củng cố vững chắc các động lực tăng trưởng của nền kinh tế vì nhiều động lực đã suy yếu. Và phải sử dụng nguồn lực đúng mục đích, đúng đối tượng, và hiệu quả.
Giải pháp cần cụ thể, khả thi và có thể thực hiện được ngay và nhanh trong thời hạn đã định. Trong bối cảnh đặc biệt, có thể tính tới giải pháp phi truyền thống.
Chương trình phục hồi cần đưa ra mục tiêu cụ thể hơn. Trong đó một số chỉ tiêu phải cao hơn mục tiêu đã đặt ra trong kế hoạch 5 năm 2021-2025. Như vậy mới đạt được mục tiêu của cả nhiệm kỳ.
Dự thảo đưa ra quá nhiều giải pháp (78 giải pháp chia thành 8 nhóm) nhưng lại chưa cụ thể và khả thi, chưa tập trung vào một chương trình có thời hạn 2-3 năm.
Quan điểm của tôi là giải pháp viết ra trong chương trình phục hồi này không trùng lặp với các chính sách, kế hoạch, chương trình đã có mà cần mạnh hơn, cao hơn giải pháp đã có và tập trung vào 5 nhóm chính.
Thứ nhất, tăng cường năng lực, nâng cao hiệu quả kiểm soát an toàn dịch bệnh để mở lại nền kinh tế thông qua tập trung tìm kiếm, cung ứng đủ vaccine; ban hành quy định về kiểm soát an toàn dịch bệnh và tăng cường năng lực cho hệ thống y tế nhất là y tế cơ sở.
Thứ hai, hỗ trợ doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ kinh doanh vượt qua đại dịch với việc hỗ trợ thanh khoản, giảm hoặc bỏ những chi phí dù doanh nghiệp không kinh doanh cũng phải trả như phí kiểm định xe, phí đường bộ… hỗ trợ phí phòng chống dịch, chuyển từ hoãn, giãn các khoản thuế sang miễn thuế trong 1-2 năm sau đại dịch, miễn phí công đoàn trong ba năm và có chương trình tín dụng đặc biệt cho một số ngành bị tê liệt như du lịch, hàng không…
Thứ ba, triển khai chương trình kích cầu đầu tư và tiêu dùng.
Thứ tư, đẩy mạnh chương trình hỗ an sinh xã hội và đào tạo lại lao động.
Thứ năm, kiên trì cải cách thể chế và cải thiện môi trường kinh doanh. Chúng ta có nhiều nghị quyết và các chương trình cải cách thủ tục hành chính nhưng nhiều năm nay chỉ có thành tích trên báo cáo chứ không có hiệu lực trong cuộc sống.
Vì vậy, phải tiếp tục đẩy mạnh cải cách môi trường kinh doanh, kiên trì mở rộng quyền tự do kinh doanh, cải cách hành chính tư pháp và đặc biệt là cải cách luật lệ phân bổ và sử dụng nguồn lực nhất là Luật Đất đai và sớm xây dựng khung khổ đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số.
Đây là lĩnh vực mới chúng ta đang khiếm khuyết về thể chế cho hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo để phát triển đội ngũ startup, thu hút nhân tài, vốn đầu tư mạo hiểm…
Dù tiêu thụ 80% nguyên liệu rừng trồng, dăm gỗ và viên nén chỉ mang lại 3-4 tỷ USD trong tổng 18 tỷ USD kim ngạch xuất khẩu ngành gỗ. Trái lại, chế biến sâu chỉ dùng 20% nguyên liệu nhưng tạo ra giá trị xuất khẩu tới 14-15 tỷ USD. Chuỗi liên kết lỏng lẻo đang là điểm nghẽn lớn cản trở ngành trồng rừng - chế biến gỗ nâng cao giá trị gia tăng.
Áp lực giải ngân trong thời gian còn lại của năm 2026 rất lớn, song vấn đề đặt ra không chỉ là giải ngân hết vốn mà phải chuyển vốn ngân sách thành khối lượng công trình thực tế, năng lực sản xuất mới và giá trị gia tăng cho nền kinh tế.
Sau chặng đường kinh tế nửa đầu năm 2026, câu hỏi đặt ra lúc này là liệu Việt Nam có thể đạt mục tiêu tăng GDP hai con số, đồng thời vẫn kiểm soát được lạm phát và giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô hay không? Đây không phải là sự lựa chọn giữa tăng trưởng hay ổn định. Vấn đề cốt lõi là chúng ta lựa chọn phương thức điều hành như thế nào để đạt được cả hai mục tiêu với chi phí thấp nhất.
Để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng bứt phá trong bối cảnh kinh tế toàn cầu đầy biến động, việc tháo gỡ điểm nghẽn cho các ngành kinh tế mũi nhọn là yêu cầu cấp bách. Từ áp lực thuế quan đối với ngành dệt may, gỗ, bài toán chi phí của ngành điện tử, phân bón đến những rào cản pháp lý trong bán lẻ và thương mại điện tử, đại diện các hiệp hội ngành hàng đồng loạt đưa ra nhiều đề xuất nhằm khơi thông nguồn lực và kiến tạo động lực phát triển mới.
Một trong những vấn đề trọng tâm hiện nay của Việt Nam là làm thế nào để vừa đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, vừa duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và bảo đảm phát triển bền vững trong dài hạn. Mục tiêu tăng trưởng bình quân khoảng 10% trong giai đoạn tới cần được hiểu là mức bình quân của cả giai đoạn, thay vì yêu cầu mọi năm đều phải đạt trên 10%. Cách tiếp cận này giúp tránh tư duy tăng trưởng bằng mọi giá, đồng thời tạo dư địa để điều hành kinh tế linh hoạt theo từng thời kỳ....
Sáu tháng đầu năm 2026 khép lại với nhiều tín hiệu tích cực của nền kinh tế. Đằng sau những con số tăng trưởng là yêu cầu nhìn lại hiệu quả thực thi các quyết sách và nhận diện những động lực cần tiếp tục được khơi thông trong chặng đường còn lại của năm, hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số.
Kỳ họp không thường lệ lần thứ nhất, Quốc hội khóa XVI đang trải qua tuần làm việc đầu tiên. Hàng loạt các dự án Luật, dự thảo Luật quan trọng được các đại biểu Quốc hội tập trung thảo luận. Trong đó có dự án Nghị quyết nhằm bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm.