Nhìn lại hành trình 40 năm thu hút FDI của Việt Nam, ông đánh giá thế nào về hiệu quả thực chất của dòng vốn này trong thời gian qua?
Hiệu quả thu hút FDI của chế định đầu tư trong thời gian qua chủ yếu được đánh giá qua các tiêu chí cốt lõi: tổng vốn đăng ký, tiến độ thực hiện dự án và thực hiện vốn góp, lĩnh vực ngành nghề kinh doanh, địa bàn đầu tư. Cụ thể, khi cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư hoặc quyết định chủ trương đầu tư, cơ quan quản lý luôn thẩm định các yếu tố cơ bản: Bản chất dự án là gì? Mục tiêu và quy mô ra sao? Địa điểm triển khai ở đâu? Tổng mức đầu tư và tiến độ thực hiện như thế nào?
Thực tế thống kê cho đến năm 2025 cho thấy, bất chấp những giai đoạn khó khăn nhất, số lượng dự án FDI đăng ký mới vẫn duy trì được đà tăng trưởng.
Đáng chú ý, dòng vốn FDI đã có sự chuyển dịch mạnh mẽ về không gian. Thay vì chỉ tập trung tại Hà Nội và TP.Hồ Chí Minh, dòng vốn này đã lan tỏa rộng khắp ra nhiều tỉnh, thành phố khác, vươn đến cả những vùng sâu, vùng xa. Sự dịch chuyển của FDI mang lại những thành tựu không thể phủ nhận, đó là thúc đẩy tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu, tạo ra lượng lớn việc làm và hỗ trợ đắc lực cho quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp sang công nghiệp, bám sát định hướng của Đảng và Nhà nước.
Mặc dù FDI đã hiện diện tại Việt Nam 40 năm và mang lại nhiều thành tựu đáng ghi nhận, song sự kết nối với khu vực trong nước và khả năng tạo ra giá trị gia tăng cao vẫn còn quá mờ nhạt?
Đó chính là điểm nghẽn cốt lõi mà chúng ta phải thẳng thắn nhìn nhận. Hầu hết đầu tư nước ngoài tìm đến Việt Nam chủ yếu để tận dụng chi phí rẻ nhằm tìm kiếm lợi nhuận ngắn hạn, thay vì kiến tạo những giá trị thặng dư bền vững. Ngay cả với những siêu dự án có vốn đầu tư lên đến hàng trăm triệu USD, sử dụng hàng trăm hecta đất, phần giá trị gia tăng thực tế mà Việt Nam thu về trong chuỗi giá trị toàn cầu vẫn là một con số rất nhỏ bé.
Thực trạng hiện nay cho thấy một nghịch lý: FDI tăng trưởng mạnh, kim ngạch xuất khẩu lớn, nhưng hàm lượng giá trị gia tăng nội địa cấu thành trong xuất khẩu lại rất hạn chế. Nguyên nhân là Việt Nam chưa xây dựng được một hệ thống các nhà cung cấp (vendor) nội địa đáng tin cậy và đủ năng lực. Có những tập đoàn FDI xây dựng những nhà máy khổng lồ, quy mô nhà xưởng lên tới 700.000 m2, nhưng lại rất ít các tập đoàn hay doanh nghiệp tư nhân nội địa lớn mạnh song hành cùng họ.
Thực tế cho thấy nền kinh tế Trung Quốc phát triển mạnh mẽ nhờ biết cách nuôi dưỡng các nhà cung ứng nội địa. Bắt đầu từ vị thế người làm thuê, những xưởng gia công nhỏ lẻ đã tích lũy kinh nghiệm, vươn lên đảm nhận các khâu gia công phức tạp hơn, sau đó tận dụng sự hỗ trợ của các nhà đầu tư nước ngoài để nghiên cứu và phát triển (R&D). Nhờ quá trình trưởng thành đó, họ tham gia sâu vào cả chuỗi sản xuất lẫn chuỗi phân phối, vươn lên trở thành những nhà sản xuất gốc (OEM) tầm cỡ toàn cầu. Khối doanh nghiệp nội địa Việt Nam có thể tham khảo bài học này cho chiến lược phát triển của mình.
Theo ông, tại sao sự liên kết và hợp tác sản xuất giữa khối FDI và doanh nghiệp nội địa Việt Nam hiện nay vẫn vô cùng lỏng lẻo, cho dù chúng ta đã nói tới điểm nghẽn này từ rất lâu?
Mô hình thu hút FDI của Việt Nam trong giai đoạn trước (từ năm 2010) đã đạt được những thành công nhất định. Tuy nhiên, trọng tâm của giai đoạn này chủ yếu dựa trên lợi thế cạnh tranh về chi phí: tiếp cận đất đai giá rẻ (đặc biệt là đất công nghiệp), chi phí nhân công thấp và các chi phí sản xuất, tiếp cận thị trường cũng ở mức thấp. Sự liên kết yếu giữa khu vực FDI và doanh nghiệp tư nhân Việt Nam xuất phát từ 7 nguyên nhân cốt lõi.
Thứ nhất, sức ỳ từ thành công của mô hình gia công chi phí thấp. Khối FDI hiện tại vẫn đang vận hành tốt và thu lợi nhuận cao nhờ lao động rẻ và các ưu đãi về đất đai, thuế. Thậm chí, có tình trạng doanh nghiệp FDI đầu tư chỉ để tận dụng ưu đãi (hết 2-4 năm miễn giảm thuế là bán lại nhà máy, hưởng chênh lệch giá đất khu công nghiệp). Do đã có sẵn lợi thế này và duy trì được đà tăng trưởng, họ thiếu động lực và áp lực phải xây dựng chuỗi cung ứng nội địa. 100% dự án FDI gia công hiện nay vẫn có thể hoạt động trơn tru mà không cần đến nhà cung cấp Việt Nam.
Thứ hai, hạn chế nội tại của doanh nghiệp tư nhân Việt Nam. Nhiều doanh nghiệp nội địa chủ yếu mang tính chất gia đình, công nghệ ở mức trung bình hoặc thấp, quy mô nhỏ. Điều này khiến họ rất khó mở rộng năng lực để đáp ứng các đơn hàng lớn từ các tập đoàn đa quốc gia.
Thứ ba, yêu cầu khắt khe về tính tuân thủ từ các tập đoàn FDI. Để trở thành nhà cung ứng nội địa cấp 1 cho các “ông lớn” (như Samsung), doanh nghiệp Việt Nam phải đối mặt với các hợp đồng cung ứng có tính ràng buộc rất cao. Khách hàng FDI yêu cầu khắt khe về sự ổn định của chất lượng, độ chính xác tuyệt đối trong thời gian giao hàng, năng lực tài chính bền vững và tính bảo mật cao. Các điều khoản hợp đồng thường đẩy sự bất lợi về phía nhà cung cấp nội địa.
Thứ tư, áp lực tài chính và chu kỳ thanh toán kéo dài. Theo thông lệ hợp đồng, việc chốt công nợ diễn ra theo tháng, nhưng chu kỳ thanh toán thực tế lại rất chậm (có thể mất từ 3 đến 6 tháng kể từ khi giao hàng). Sự chậm trễ này tạo ra áp lực dòng tiền khổng lồ, buộc các doanh nghiệp nội địa phải vay vốn ngân hàng để duy trì sản xuất đơn hàng lớn, phải chịu gánh nặng chi phí lãi vay cao.
Thứ năm, rủi ro hàng tồn kho đẩy về phía nhà cung cấp. Các tập đoàn FDI thường yêu cầu nhà cung cấp phải duy trì một lượng hàng dự trữ rất lớn để đảm bảo khả năng cung ứng tức thời. Tuy nhiên, họ lại không cam kết tiêu thụ toàn bộ số lượng này. Mọi rủi ro đọng vốn và tồn kho đều do nhà cung ứng nội địa gánh chịu.
Thứ sáu, bất cập trong hệ thống chính sách thu hút FDI. Thời gian qua, chính sách thu hút FDI vẫn chạy theo bề nổi (chú trọng số lượng dự án, số vốn đăng ký, kim ngạch xuất khẩu, số lượng việc làm) mà bỏ ngỏ các chỉ tiêu về chất lượng như chuyển giao công nghệ hay hỗ trợ phát triển doanh nghiệp vệ tinh. Gần đây có ý kiến đề xuất yêu cầu doanh nghiệp FDI phải cam kết tỷ lệ nội địa hóa, nhưng điều này không phù hợp với các cam kết đầu tư quốc tế hiện đại và trái với nguyên tắc bảo đảm đầu tư (quy định tại Điều 11 Luật Đầu tư 2020 và Điều 5 Luật Đầu tư 2025). Thực tế trong quá khứ, các chính sách ép buộc nội địa hóa trong ngành ô tô và cơ khí của chúng ta cũng đã thất bại.
Thứ bảy, thiếu vắng hạ tầng thông tin và cơ sở dữ liệu trung gian. Việt Nam hiện chưa có một cơ sở dữ liệu quốc gia đồng bộ và chi tiết về mạng lưới các nhà cung ứng nội địa. Khi các doanh nghiệp FDI vào Việt Nam, họ chủ yếu dùng mạng lưới cung ứng cũ đưa từ nước ngoài sang vì không thể tìm kiếm thông tin về việc: doanh nghiệp Việt Nam nào có thể sản xuất mặt hàng gì, năng lực cung ứng ra sao. Đây là điểm nghẽn lớn trong việc kết nối B2B.
Với những điểm nghẽn như vậy, theo ông, đã đến lúc phải thay đổi mô hình thu hút FDI?
Đã đến lúc chúng ta phải nâng cấp mô hình. Mục tiêu chiến lược cho giai đoạn từ năm 2026 trở đi, bám sát tinh thần các Nghị quyết của Bộ Chính trị về định hướng hoàn thiện thể chế, chính sách thu hút FDI, dòng vốn FDI phải gắn kết chặt chẽ với sự phát triển của doanh nghiệp tư nhân Việt Nam. Đây là tín hiệu chính sách rõ ràng và cũng là kỳ vọng lớn để nền kinh tế chuyển sang một giai đoạn chất lượng hơn.
Điều này xuất phát từ 4 áp lực thực tiễn hiện nay: lợi thế nhân công giá rẻ không còn là ưu thế; áp lực cạnh tranh khốc liệt với các quốc gia trong khu vực như Indonesia, Thái Lan, Malaysia và Ấn Độ; nhu cầu thoát khỏi “bẫy” giá trị gia tăng thấp dựa trên việc đổi mới thể chế để thu hút dòng vốn FDI chất lượng cao, các dự án công nghệ dẫn đầu; gắn kết với các định hướng chiến lược quốc gia như Nghị quyết 68, đặt doanh nghiệp tư nhân vào vị trí trung tâm trong chiến lược phát triển kinh tế của kỷ nguyên mới.
Để xây dựng hệ sinh thái này, một trong những vấn đề quan trọng hàng đầu là định danh khái niệm “hợp tác cùng có lợi” theo tinh thần Nghị quyết 50 của Bộ Chính trị. Theo đó, chúng ta cần thay đổi bộ tiêu chí đánh giá và cấp ưu đãi như thế nào thay vì tiếp tục dựa trên tổng vốn đăng ký hay địa bàn đầu tư, thưa ông?
Giai đoạn mới cần một bộ tiêu chí đánh giá hoàn toàn khác biệt. Một là, xây dựng hệ sinh thái đồng bộ. Để thu hút FDI công nghệ cao, không thể chỉ cấp đất trong khu công nghệ cao là xong. Cần phải hoàn thiện đồng bộ hệ sinh thái đi kèm: hạ tầng giao thông kết nối, thủ tục xuất nhập cảnh và lưu trú thuận tiện, di chuyển và tiện ích sinh sống tốt... để thu hút chuyên gia cấp cao quốc tế.
Hai là, bảo đảm quyền sở hữu tài sản và giải quyết tranh chấp minh bạch. Thu hút công nghệ cao đòi hỏi sự bảo vệ tuyệt đối về tài sản và sở hữu trí tuệ. Cơ chế giải quyết tranh chấp (tòa án, trọng tài) phải minh bạch, nhanh chóng, phù hợp với chuẩn mực quốc tế. Đặc biệt, khâu thi hành án phải thực sự hiệu quả. Hiện tại, chế định tài sản và cơ chế thi hành án của Việt Nam vẫn còn nhiều bất cập.
Ba là, tiêu chí về tác động lan tỏa. Cần có bộ tiêu chí cụ thể để định lượng mức độ lan tỏa của doanh nghiệp FDI. Ví dụ: chính sách ưu đãi phải gắn liền với thực chất liên kết nội địa; ưu đãi phải dành cho những doanh nghiệp FDI có năng lực dẫn dắt, tạo ra 20 hay 100 doanh nghiệp vệ tinh là doanh nghiệp Việt.
Bốn là, đầu tư ngân sách để phát triển nhà cung cấp Việt. Thay vì dùng ngân sách địa phương để trợ cấp trực tiếp cho lao động (như trước đây), Nhà nước cần dành nguồn lực này để tài trợ cho các chương trình huấn luyện, đào tạo, xây dựng cổng dữ liệu quốc gia về nhà cung cấp, giúp doanh nghiệp nội địa đủ sức trở thành nhà cung cấp cấp 1.
Năm là, áp dụng chuẩn mực kế toán quốc tế (IFRS). Bắt buộc hoặc khuyến khích áp dụng IFRS không chỉ với FDI mà cả với doanh nghiệp tư nhân Việt Nam muốn tham gia vào chuỗi cung ứng, nhằm giải quyết bài toán minh bạch tài chính.
Sáu là, mô hình liên kết “3 nhà”, gồm: doanh nghiệp FDI – trường đại học – doanh nghiệp tư nhân trong nước để hỗ trợ đào tạo và nghiên cứu.
Gần đây, chúng ta đang đẩy mạnh thu hút đầu tư vào chip hay trí tuệ nhân tạo (AI). Ông nghĩ sao về triển vọng thu hút những ngành này trong tương lai?
Hiện nay, có một luồng ý kiến cho rằng Việt Nam nên tập trung thu hút đầu tư vào các ngành công nghệ “hot” như chip điện tử hay trí tuệ nhân tạo (AI). Tuy nhiên, cần đánh giá lại về phần giá trị gia tăng mà Việt Nam có được từ các chuỗi giá trị này cao hay thấp, hay chủ yếu vẫn chỉ dừng lại ở khâu lắp ráp. Chúng ta chưa làm chủ được công nghệ từ gốc, chưa có công nghệ nguồn. Thêm vào đó, hạ tầng cơ bản cũng chưa đáp ứng được.
Do đó, một câu hỏi lớn được đặt ra: Việc đầu tư vào những ngành rất “hot” khi chưa đủ năng lực lõi, hạ tầng chưa sẵn sàng và giá trị thu về thấp có thực sự hiệu quả? Hay chúng ta nên đầu tư vào những lĩnh vực quy mô nhỏ hơn nhưng mang lại giá trị gia tăng thực chất và thiết thực hơn cho nền kinh tế.
Suốt 40 năm qua, thành công lớn nhất của Việt Nam là duy trì được dòng vốn FDI tăng trưởng dương ngay cả trong những thời kỳ khủng hoảng nhất, nhưng thiết kế chính sách ưu đãi của chúng ta chỉ dựa trên các con số định lượng (ví dụ: vốn 3.000 tỷ đồng, giải ngân trong 3 năm) để cấp ưu đãi (thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp 10%, miễn thuế 4 năm, giảm 50% trong 9 năm tiếp theo). Khi ưu đãi dựa trên quy mô thay vì kết quả, FDI sẽ chỉ nhận ưu đãi mà không mang lại công nghệ thực chất.
Do vậy, đã đến lúc cần thay đổi tư duy thiết kế chính sách: phải xây dựng một đội ngũ chuyên gia đặt đề bài và sử dụng lợi ích kinh tế để điều hướng FDI, như xác định rõ Việt Nam đang khát công nghệ lõi nào, công bố minh bạch “đề bài” này cho các nhà đầu tư quốc tế và sử dụng ưu đãi như một phần thưởng. Nếu doanh nghiệp mang đến công nghệ lõi này và đạt được trình độ chuyển giao như cam kết, Việt Nam sẽ không chỉ miễn thuế 4 năm mà có thể miễn đến 15 năm, hoặc miễn thuế 100% trong suốt vòng đời dự án.
Phải để doanh nghiệp FDI tự cân nhắc lợi ích từ việc chuyển giao công nghệ cho Việt Nam lớn hơn việc họ giữ công nghệ đó để bán bản quyền trong 50 năm. Chỉ khi bài toán lợi ích (win-win) được giải quyết, Việt Nam mới mong có công nghệ lõi, giống như cách chúng ta từng yêu cầu (nhưng chưa thành công) các doanh nghiệp FDI lớn phải đưa nhà cung cấp Việt Nam vào chuỗi cung ứng của họ.
Về phía doanh nghiệp Việt Nam, cần nuôi dưỡng khát vọng và cam kết dài hạn trong việc áp dụng khoa học và công nghệ, minh bạch tài chính, bảo mật dữ liệu và tuân thủ thời gian giao hàng chuẩn quốc tế. Cần định vị lại Việt Nam không chỉ là nơi có chi phí rẻ, mà là nơi các doanh nghiệp FDI có thể xây dựng hệ sinh thái hợp tác dài hạn.
Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 18 +19-2026 phát hành ngày 11/05/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
Link: https://vneconomy.vn/don-doc-tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-1819-2026.htm
Thuế đối ứng của Mỹ có ảnh hướng thế nào đến chứng khoán?
Chính sách thuế quan mới của Mỹ, đặc biệt với mức thuế đối ứng 20% áp dụng từ ngày 7/8/2025 (giảm từ 46% sau đàm phán), có tác động đáng kể đến kinh tế Việt Nam do sự phụ thuộc lớn vào xuất khẩu sang Mỹ (chiếm ~30% kim ngạch xuất khẩu). Dưới đây là phân tích ngắn gọn về các ảnh hưởng chính: