Dòng vốn ngoại được kỳ vọng sẽ gia tăng theo tiến trình nâng hạng. Theo ông, dòng tiền này có thể tạo ra sự thay đổi nào về cấu trúc và chất lượng thị trường chứng khoán, đặc biệt ở việc thu hút vốn vào các ngành trụ cột mới?
Chúng ta đã chính thức được FTSE Russell công nhận thị trường chứng khoán thứ cấp mới nổi. Tuy nhiên, chúng ta còn một quá trình quá độ. Từ nay đến tháng 9/2026, chúng ta phải tiếp tục hoàn thiện một số khâu khác, công việc khác, để tiến tới chính thức và trở thành thị trường thứ cấp mới nổi theo tiêu chí của FTSE Russell.
Các dự báo phân tích cho rằng Việt Nam có thể thu hút được khoảng 5 tỷ USD trong giai đoạn tới. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng nó không đến ồ ạt mà sẽ phân kỳ, có thể kéo dài từ 1 đến 2 năm, thậm chí lâu hơn. Lượng vốn này, chúng ta hy vọng là tốt, nhưng không nhiều lắm. Giả sử tổng lượng vốn mới vào trong 3 năm, thì mỗi năm khoảng từ 1-2 tỷ USD bổ sung mới cho thị trường chứng khoán Việt Nam.
Thêm nữa, lượng vốn chủ yếu đến từ các quỹ đầu tư, quỹ ETF và chia ra làm 2 nhóm là thụ động và chủ động. Khoảng 30% sẽ đến từ các quỹ thụ động và 70% đến từ quỹ chủ động. Ngoài ra, các nhà đầu tư vẫn còn nghe ngóng, xem động thái thị trường, động thái chính sách, động thái của các nhà đầu tư khác như thế nào đối với thị trường chứng khoán Việt Nam. Rõ ràng, chúng ta phải làm rất nhiều việc theo hướng như thế.
Ông nhìn nhận rủi ro “tiền vào tiền ra nhanh” ra sao?
Khi chúng ta có lượng vốn mới, kể cả 3-5 tỷ USD trong một vài năm tới, thì đương nhiên tác động sẽ là tích cực đối với thị trường tài chính nói chung và chứng khoán nói riêng ở 3 góc độ.
Thứ nhất, dòng vốn mới sẽ là xúc tác cho các dòng vốn khác cùng đổ thêm vào thị trường chứng khoán Việt Nam, thực tiễn cho thấy một số dòng vốn khác cũng đã và đang được xúc tác để bổ sung cho thị trường chứng khoán Việt Nam.
Thứ hai, dòng vốn mới cũng giúp cho thị trường chứng khoán Việt Nam trở nên lành mạnh hơn, bởi vì nếu muốn được chính thức nâng hạng vào tháng 9/2026 và muốn trụ hạng thì phải tăng cường chất lượng, hiệu quả, quy mô của thị trường chứng khoán Việt Nam như đề án mà Chính phủ đã đề ra.
Thứ ba, một phần vốn mới vào thị trường như vậy sẽ giúp Việt Nam có thêm lượng vốn ngoại tệ, có thêm công cụ để bình ổn tỷ giá hiện nay và sắp tới.
Sự có mặt của dòng vốn mới là tích cực, tuy nhiên chúng ta cũng phải đối mặt với không ít thách thức.
Một là, nếu chúng ta không đáp ứng kỳ vọng của nhà đầu tư và của FTSE Russell trong năm tới thì sẽ như thế nào? Bởi vậy, đó là điều chúng ta phải quyết tâm thực hiện.
Hai là, nếu thị trường xuất hiện những yếu tố bất lợi, thì hiện tượng đảo chiều sẽ như thế nào, chúng ta cũng cần phải tính những phương án kiểm soát rủi ro đó. Tức là có thể là tiền vào nhiều hơn, nhưng cũng có thể là tiền ra nhiều hơn cùng một lúc như thế.
Đây là việc chúng ta vừa nỗ lực cải thiện thị trường, nhưng cũng phải có công cụ để kiểm soát rủi ro tốt hơn.
Để vừa mở cửa mạnh hơn cho dòng vốn ngoại, vừa giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, chúng ta nên điều phối ba trụ chính sách tiền tệ – tài khóa – tỷ giá theo hướng nào trong giai đoạn 2025–2026?
Thứ nhất, thực hiện thật tốt đề án Thủ tướng Chính phủ đã ký, ban hành liên quan đến việc nâng hạng thị trường chứng khoán. Tất cả các cơ chế, chính sách, giải pháp trong đó đã được định vị khá rõ.
Thứ hai, luôn đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát tốt lạm phát, tỷ giá và những thị trường có liên quan khác, ví dụ thị trường vàng, thị trường tài sản mã hóa, kể cả thị trường chứng khoán. Qua đó góp phần ổn định kinh tế vĩ mô và tăng đến niềm tin cho nhà đầu tư cả trong nước và quốc tế.
Ông nhiều lần nhấn mạnh nâng hạng không chỉ để được công nhận mà còn để duy trì vị thế thị trường mới nổi… Vậy, đâu là ưu tiên then chốt trong ngắn hạn để tăng cả quy mô và chất lượng thị trường?
Có ba nhóm giải pháp quan trọng.
Nhóm giải pháp thứ nhất, tăng cả số lượng và chất lượng cho thị trường chứng khoán Việt Nam. Ví dụ số lượng doanh nghiệp niêm yết hiện nay chưa nhiều, chất lượng của các doanh nghiệp niêm yết hiện nay chưa cao, chủ yếu tập trung vào nhóm ngân hàng, nhóm bất động sản. Chưa có nhiều cổ phiếu niêm yết lớn từ lĩnh vực công nghệ thông tin, khoa học, công nghệ, năng lượng, công nghiệp chiến lược của Việt Nam. Tôi rất mong muốn những lĩnh vực này dần dần thời gian tới sẽ có nhiều doanh nghiệp lớn niêm yết, thực sự là trụ cột của thị trường chứng khoán Việt Nam như thông lệ của nhiều nước trên thế giới.
Nhóm giải pháp thứ hai, tăng tính minh bạch của thị trường. Theo đó, cải thiện công bố thông tin cả tiếng Việt, tiếng Anh, đồng thời áp dụng các chuẩn mực quốc tế bao gồm cả chuẩn mực kế toán quốc tế, chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế để giúp thị trường chứng khoán hội nhập tốt hơn và duy trì được mức nâng hạng, thậm chí là thăng hạng trong thời gian tới.
Nhóm giải pháp thứ ba, chất lượng của nhà đầu tư, bao gồm cả nhà đầu tư tổ chức và nhà đầu tư cá nhân. Với nhà đầu tư tổ chức, các quỹ đầu tư của chúng ta cần quan tâm để phát triển tốt hơn nữa trong thời gian tới. Tất cả những quỹ đầu tư này, kể cả doanh nghiệp niêm yết của Việt Nam thời gian tới phải hướng đến hai yếu tố quan trọng chính là xanh hóa và số hóa mới đảm bảo có được thị trường chứng khoán phát triển bền vững.
Theo ông, đâu là “nút thắt” lớn nhất trong hệ thống pháp lý và triển khai chính sách hiện nay: Tốc độ sửa đổi luật, khả năng áp dụng chuẩn quốc tế hay xử lý vướng mắc trong các mô hình kinh doanh tài chính mới? Liệu đã đến thời điểm cần sửa đổi toàn diện Luật Chứng khoán để theo kịp yêu cầu cải cách chưa?
Trong đề án mà Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành về nâng hạng thị trường chứng khoán đã nhận diện rất rõ những nút thắt này.
Trước hết, cần phải tổ chức thực hiện thật tốt các cơ chế chính sách đặc biệt, các nghị quyết chiến lược mà lãnh đạo Đảng, Nhà nước đã ban hành thời gian qua, triển khai các luật có liên quan, đặc biệt là Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, Luật Chứng khoán và một số luật khác.
Tiếp đến, cần tiếp tục ban hành những quy định pháp luật mới để điều chỉnh các lĩnh vực kinh doanh mới, mô hình kinh doanh mới.
Ngoài ra, cần kịp thời tháo gỡ những rào cản vướng mắc trong quá trình triển khai thực hiện. Tôi kiến nghị thêm là có lẽ đã đến thời điểm chúng ta nên rà soát thêm về Luật Chứng khoán ban hành năm 2019. Chúng ta đã sửa đổi một phần luật này trong năm 2024, nhưng đã đến lúc cần sửa đổi một cách căn bản.
Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 44-2025 phát hành ngày 3/11/2025. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-44-2025.html
Theo thống kê, giá nhà ở tại Việt Nam hiện đã tăng 400 lần so với năm 1990. Từ quý 3/2025 đến nay, hầu hết các dự án mới ra mắt tại Hà Nội và TP.Hồ Chí Minh đều có giá bán trên 100 triệu đồng/m2. Giá nhà tăng cao không chỉ ảnh hưởng tới an sinh xã hội, gây bất bình đẳng xã hội mà còn tác động tiêu cực tới quá trình phát triển kinh tế - xã hội của các đô thị lớn. Khi chi phí nhà ở chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong thu nhập, chi phí sinh hoạt tại đô thị ngày càng đắt đỏ, các doanh nghiệp phải đối mặt với thách thức trong việc thu hút và giữ chân lao động, còn lao động trẻ thì mất độ̂ng lực sở hữu nhà, dẫn đến không muốn kết hôn, sinh con...
Trao đổi với Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy về phân khúc nhà ở cho thuê, ông Nguyễn Văn Đính, Phó Chủ tịch Hiệp hội Bất động sản Việt Nam, Chủ tịch Hội Môi giới Bất động sản Việt Nam, Viện trưởng Viện Nghiên cứu và đánh giá thị trường bất động sản Việt Nam, cho rằng việc phát triển đồng bộ thị trường nhà ở cho thuê sẽ góp phần bổ sung nguồn cung lớn các sản phẩm nhà ở phù hợp với khả năng chi trả của đa số người dân. Đồng thời, các đô thị lớn sẽ có thêm nhiều “chốn an cư khởi đầu” - nền tảng quan trọng để hình thành các hộ gia đình mới, duy trì lực lượng lao động và tạo động lực cho sự phát triển bền vững trong dài hạn.
Việt Nam đang nổi lên như một trong những trung tâm khởi nghiệp về game và ứng dụng AI đáng chú ý tại châu Á. Tuy nhiên, thách thức lớn nhất của các startup hiện nay không phải năng lực công nghệ mà là khả năng đưa sản phẩm ra thị trường, xây dựng đội ngũ lãnh đạo và phát triển doanh nghiệp có sức cạnh tranh toàn cầu…
Việt Nam đang nổi lên như một thị trường năng lượng tái tạo phát triển nhanh nhất châu Á, với gần 24 GW công suất năng lượng tái tạo đã vận hành và khoảng 7 GW điện gió. Trao đổi với a / b bên lề Hội nghị thượng đỉnh Điện gió châu Á - Thái Bình Dương (APAC Wind Energy Summit 2026) tại Hà Nội, ông Girish Tanti, Phó Chủ tịch Tập đoàn Suzlon của Ấn Độ, cho rằng Việt Nam không chỉ là thị trường tiềm năng mà còn có thể trở thành trung tâm phát triển, dịch vụ và chuỗi cung ứng năng lượng tái tạo của khu vực.
Giữa tâm điểm của làn sóng dữ liệu và sự bùng nổ AI, giá trị của sự xác thực và tư duy phản biện từ truyền thông chính thống lại càng trở nên vô giá. Khẳng định tầm vóc của Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy sau hành trình 35 năm phát triển, lãnh đạo các tập đoàn đa quốc gia và doanh nghiệp hàng đầu nhấn mạnh: cơ hội lớn nhất của báo chí kinh tế lúc này là làm chủ công nghệ và chuyển dịch mạnh mẽ từ “đưa tin” sang “kiến tạo tri thức”. Đây chính là bệ phóng vững chắc giúp cộng đồng doanh nghiệp tăng tốc chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo, tăng trưởng bền vững; đồng thời tiếp sức cho các doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam tự tin vươn tầm khu vực và thế giới.
Kinh tế ngày nay không còn là một lĩnh vực tách biệt, mà được định hình mạnh mẽ bởi địa chính trị, công nghệ và tính bền vững. Giữa dòng chảy thông tin dồi dào, điều độc giả cần nhất ở báo chí chính thống là bối cảnh, góc nhìn chuyên sâu và sự tin cậy. Trong giai đoạn tới, sứ mệnh lớn nhất của báo chí kinh tế không phải là trở thành người đưa tin nhanh nhất, mà là trở thành nền tảng tinh thần của nền kinh tế.
Hạ tầng năng lượng thông minh đóng vai trò quan trọng trong việc tối ưu hóa vận hành hệ thống năng lượng, tăng cường khả năng tích hợp các nguồn năng lượng tái tạo, hiện thực hóa các mục tiêu phát triển xanh của Việt Nam. Nhận diện các cơ hội và thách thức, đề xuất giải pháp thúc đẩy phát triển hạ tầng năng lượng thông minh đang là yêu cầu cấp thiết.