Mới đây, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam đã đồng ý với đề xuất mở cửa lại hoạt động du lịch trong điều kiện bình thường mới từ ngày 15/3. Việc mở cửa này đem đến những cơ hội nào cho ngành du lịch trong thời gian tới, thưa ông?
Đây là cơ hội lớn cho sự trở lại của ngành du lịch sau giai đoạn bị “nén chặt”. Trong 2 năm phải chống chọi với dịch Covid-19, doanh nghiệp hàng không và du lịch… là những doanh nghiệp đầu tiên bị ảnh hưởng và cũng là những doanh nghiệp bị “tàn phá” nặng nề nhất bởi dịch bệnh. Mặc dù, đã từng bước nới lỏng các biện pháp giãn cách nhưng mở cửa thị trường nội địa vẫn chưa đủ sức vực dậy các doanh nghiệp du lịch và hàng không. Chỉ khi mở cửa thị trường quốc tế mới thực sự tạo được cơ hội và sức bật cho ngành du lịch và hàng không phục hồi.
Dù vậy, đây mới là giai đoạn đầu của quá trình phục hồi. Để quay lại tốc độ tăng trưởng như năm 2019 và các năm trước đại dịch, Việt Nam cần thêm từ 1-2 năm nữa nhưng với điều kiện dịch bệnh được kiểm soát và các chính sách phát triển ngành du lịch được đưa ra đúng hướng và bắt kịp với sự thay đổi của thị trường.
Hơn nữa, trong bối cảnh một số nước xung quanh Việt Nam như Thái Lan, Singapore… đã mở cửa, nếu Việt Nam vẫn lưỡng lự, không nhanh chân mở cửa thị trường, chúng ta sẽ đánh mất cơ hội cạnh tranh. Khi đó, du lịch và hàng không thậm chí còn cần nhiều thời gian hơn nữa (3-4 năm) để phục hồi và dần trở về mức trước đại dịch.
Một khảo sát được TAB thực hiện tại thị trường Singapore cho thấy, có tới 90% khách du lịch của quốc đảo này sẵn sàng quay lại nếu Việt Nam mở cửa du lịch quốc tế. Đây là những tín hiệu thị trường rất tốt cho ngành du lịch nói riêng và của cả nền kinh tế nói chung.
Mới đây nhất, ngay sau kỳ nghỉ Tết Nguyên đán, TAB đã có cuộc làm việc với các đối tác tại Anh quốc. Kết quả cho thấy, du khách Anh mong muốn đi du lịch trở lại ngay khi Việt Nam mở lại du lịch quốc tế.
Do vậy, cho phép mở lại chuyến bay thương mại quốc tế từ ngày 15/2 cũng như tuyên bố mở cửa du lịch quốc tế từ ngày 15/3 chính là những tín hiệu đầu tiên ra thế giới của Việt Nam về quyết tâm mở cửa trở lại. Đây sẽ là cơ hội lớn để ngành du lịch Việt Nam có thể bật tăng một cách nhanh chóng sau giai đoạn dài bị tàn phá bởi Covid-19.
Đặc biệt, không chỉ khách quốc tế có nhu cầu vào Việt Nam, mà ngay cả người Việt Nam cũng có nhu cầu ra quốc tế. Vì vậy, việc mở cửa thị trường cũng tạo điều kiện thuận lợi cho người Việt Nam đi công tác và du lịch tới những quốc gia khác trên thế giới.
Sau thời gian 2 năm phải dừng hoạt động, theo ông, các doanh nghiệp du lịch phải chuẩn bị những gì để đón khách trở lại?
Sau quãng thời gian tạm dừng hoạt động, không riêng doanh nghiệp mà cả cơ quan quản lý cũng phải đối mặt với nhiều áp lực và thách thức để hoạt động trở lại.
Đó là: cơ quan quản lý cần nhanh chóng ban hành chính sách xúc tiến, quảng bá, hướng dẫn cụ thể đối với từng thị trường khác nhau; các địa phương, điểm du lịch cần chuẩn bị để đón khách trong điều kiện tốt nhất và an toàn nhất…
Tuy nhiên, hiện nay, chúng ta chưa có nghiên cứu nào về nhu cầu và xu hướng khách quốc tế đến Việt Nam trong thời gian tới. Trong khi đó, nhiều nghiên cứu được các tổ chức quốc tế công bố gần đây cho thấy xu hướng du lịch sau đại dịch Covid-19 đã có sự thay đổi rõ rệt.
Một khảo sát về xu hướng du lịch của du khách Anh sau đại dịch cho thấy, du khách Anh có nhu cầu du lịch quốc tế dài ngày hơn, ít di chuyển hơn và có xu hướng đi theo nhóm nhỏ với bạn bè hay gia đình.
Vì vậy, Việt Nam cần nhanh chóng nghiên cứu những thay đổi này để việc mở cửa thực sự hiệu quả. Bởi chỉ khi hiểu được những thay đổi của nhu cầu của khách hàng sau Covid-19, chúng ta mới có sự thay đổi, điều chỉnh phù hợp với thị trường.
Hiện nay, các doanh nghiệp du lịch Việt Nam vẫn còn khó khăn và lúng túng trong việc tìm hiểu nhu cầu của các thị trường trọng điểm. Vì vậy, các cơ quan nghiên cứu, cơ quan chuyên trách cần vào cuộc để đưa ra những thông tin hướng dẫn và tư vấn cho doanh nghiệp.
Ngoài ra, nhiều doanh nghiệp cũng lo ngại trước tình trạng thiếu hụt nhân lực sau giai đoạn phải tạm dừng hoạt động vì Covid-19 khi nhiều nhân viên đã rời bỏ và chuyển ngành. Do vậy, dịch vụ sẽ khó đảm bảo chất lượng phục vụ khi nhân lực chưa đủ và chưa được đào tạo bài bản, nhất là trong bối cảnh nhiều kỹ năng mới cần được bổ sung (như: kỹ năng phòng dịch, hướng dẫn chống dịch cho khách hàng, sử dụng các công nghệ mới phục vụ khách hàng, ứng dụng chuyển đổi số cho doanh nghiệp...).
Đáng tiếc, đến thời điểm này, chúng tôi vẫn chưa nhìn thấy một kế hoạch tổng thể hỗ trợ cho doanh nghiệp được triển khai. Với nguồn lực tài chính khó khăn, nhân lực chưa đủ, các doanh nghiệp có quy mô nhỏ và vừa sẽ gặp rất nhiều khó khăn và thử thách để quay trở lại “đường đua” du lịch.
Vậy theo ông, doanh nghiệp du lịch hiện nay cần được hỗ trợ những gì để có thể nhanh chóng trở lại “đường đua” du lịch một cách hiệu quả?
Như tôi đã chia sẻ, những vấn đề nêu trên chỉ mang tính “bốc thuốc” dựa trên những nhận định định tính ban đầu. Vấn đề quan trọng nhất hiện nay là các cơ quan quản lý nhà nước cần có những nghiên cứu tổng thể để xác định đâu là điểm yếu của du lịch sau đại dịch. Theo đó, cần điều chỉnh thế nào để thích ứng và phù hợp với bối cảnh mới, các bước đi cụ thể sẽ ra sao,… từ đó xây dựng những văn bản hướng dẫn rõ ràng, hỗ trợ doanh nghiệp một cách hiệu quả để vượt qua những khó khăn ban đầu.
Sau nhiều lần “tắt, bật” nền kinh tế, Nhà nước cần có một thông điệp rõ ràng về chính sách giúp doanh nghiệp biết chắc họ cần phải làm gì để đáp ứng yêu cầu về kiểm soát dịch dịch bệnh và kinh doanh an toàn. Các doanh nghiệp cần “cần câu” chứ không phải “con cá”.
Nhiều doanh nghiệp vẫn đang loay hoay tìm hướng, vì vậy, với vai trò là cơ quan quản lý, Chính phủ cần định hướng thông tin minh bạch, chính xác và thống nhất.
Chúng ta đang đẩy mạnh chuyển đổi số nên các văn bản hướng dẫn thực thi cần được đăng tải trên một cổng thông tin quốc gia để tránh tạo ra những cách hiểu không thống nhất giữa các đơn vị thực thi, từ đó gây khó khăn cho doanh nghiệp. Ngoài ra, việc công bố thông tin chính thống cũng sẽ giúp khách quốc tế dễ dàng tìm kiếm và nắm bắt thông tin để lựa chọn Việt Nam là điểm đến du lịch hấp dẫn sau đại dịch.
VnEconomy 23/02/2022 16:00
Đô thị bền vững không bắt đầu từ những tuyên ngôn lớn, mà từ cách quy hoạch “lắng nghe” khí hậu, địa hình, văn hóa và nhu cầu của con người bản địa. Trong cuộc trao đổi với phóng viên, ông Carlo Negri, Giám đốc quốc tế Sweco, chia sẻ cách hơn 130 năm kinh nghiệm quốc tế được chuyển hóa thành một quy hoạch mang bản sắc riêng cho Coastal Quảng Ngãi - A Community by HAUS.
Công nghệ viễn thám đóng vai trò quan trọng trong việc thu thập thông tin và dữ liệu về bề mặt Trái Đất và khí quyển từ xa, tác động đến nhiều khía cạnh của cuộc sống. Đặc biệt, các công nghệ viễn thám bao gồm ảnh vệ tinh, cảm biến gắn trên thiết bị bay không người lái và các nền tảng trên mặt đất đang chuyển đổi nền nông nghiệp truyền thống thành một ngành dựa trên dữ liệu, có khả năng đạt được năng suất cao hơn với mức tiêu thụ tài nguyên thấp hơn...
Theo quy hoạch, Hà Nội và TP.Hồ Chí Minh sẽ cần huy động khoảng 214-241 tỷ USD để đầu tư hơn 2.000 km đường sắt đô thị (metro) trong những thập kỷ tới. Tuy nhiên, thách thức không chỉ ở việc thu xếp đủ nguồn vốn, mà còn ở thiết kế một cơ chế tài chính đủ bền vững để tiếp tục thu hút đầu tư, bảo đảm vận hành hiệu quả và duy trì an toàn tài khóa trong dài hạn...
Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy đã có cuộc trao đổi với TS.Vũ Việt Anh về câu chuyện thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học công nghệ cũng như năng lực Lab-to-Market (L2M), đưa sản phẩm “từ phòng lab ra thị trường” của startup và xu hướng “doanh nghiệp một người” trong kỷ nguyên AI.
Trong bối cảnh Việt Nam hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số và đón làn sóng FDI công nghệ cao, khu công nghiệp không còn chỉ là nơi cung cấp mặt bằng sản xuất. Từ hạ tầng xanh, chuyển đổi số, hệ sinh thái dịch vụ đến chất lượng môi trường đầu tư, các tiêu chí cạnh tranh đang thay đổi, đòi hỏi khu công nghiệp phải chuyển sang một giai đoạn phát triển mới để đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế.
Mời quý độc giả đón đọc Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 30-2026 phát hành ngày 27/07/2025 với nhiều chuyên mục hấp dẫn...
Tuy đã có các khung cơ bản nhưng những chi tiết để doanh nghiệp có thể thực hiện được dự án tín chỉ carbon vẫn còn thiếu. Doanh nghiệp vẫn đang chờ hướng dẫn chi tiết từ các bộ, ngành để có thể tạo ra tín chỉ trao đổi, bù trừ trong nước và có thêm loại hàng hóa thứ hai đưa lên sàn giao dịch, thay vì chỉ có Hạn ngạch như hiện nay.