Kể từ khi Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - Israel (VIFTA) chính thức có hiệu lực từ ngày 17/11/2024, quan hệ kinh tế - thương mại song phương đã ghi nhận những bước phát triển vượt bậc.
Số liệu đưa ra tại tọa đàm “Từ hợp tác công nghệ đến phát triển chuỗi giá trị: Phát huy vai trò của VIFTA trong nâng cao năng lực sản xuất của Việt Nam” cho thấy kim ngạch thương mại song phương tăng trưởng không ngừng qua các năm. Năm 2024, kim ngạch hai chiều đạt 3,25 tỷ USD, tăng gần 21% so với năm 2023. Sang năm 2025, con số này đạt 3,63 tỷ USD, tiếp tục tăng 11,8%. Bước sang năm 2026, chỉ tính riêng 10 tháng đầu năm, kim ngạch đã chạm mốc 3,5 tỷ USD và ước tính cả năm có thể đạt khoảng 4,4 tỷ USD, tương ứng mức tăng trên 21%.
Đáng chú ý, dòng hàng xuất khẩu từ Việt Nam sang Israel chứng kiến sự bứt phá mạnh mẽ. Kim ngạch xuất khẩu năm 2024 đạt 795 triệu USD, năm 2025 đạt 865 triệu USD. Trong 10 tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất khẩu đã vượt mốc 1 tỷ USD và dự báo cả năm sẽ đạt khoảng 1,3 tỷ USD, tăng tới 50,3% so với năm trước.
Tham tán thương mại, phụ trách Thương vụ Việt Nam tại Israel Lê Thái Hòa nhấn mạnh Hiệp định VIFTA đã tạo ra xung lực mạnh mẽ. Việc Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Kế hoạch thực hiện Hiệp định VIFTA tại Quyết định số 16/QĐ-TTg vào đầu năm 2026 đã tạo hành lang thuận lợi giúp doanh nghiệp tận dụng tốt quy tắc xuất xứ, vượt qua các rào cản kỹ thuật và đẩy mạnh xuất khẩu.
Phía sau các con số thương mại là dư địa hợp tác rộng lớn xuất phát từ tính chất bổ trợ lẫn nhau giữa hai nền kinh tế. Israel là quốc gia khởi nghiệp top đầu thế giới với thế mạnh vượt trội về trí tuệ nhân tạo (AI), công nghệ bán dẫn, nông nghiệp công nghệ cao và giải pháp quản lý nguồn nước. Ngược lại, Việt Nam sở hữu nền tảng sản xuất công nghiệp đang mở rộng, quy mô thị trường lớn và mạng lưới FTA đa dạng.
Mặc dù tiềm năng rất lớn, việc chuyển từ giao dịch mua bán thiết bị đơn thuần sang làm chủ công nghệ vẫn đang gặp phải không ít rào cản. Chuyên gia kinh tế, PGS. TS Ngô Trí Long chỉ ra sự khác biệt căn bản là mua bán công nghệ chỉ giúp tạo ra năng lực sử dụng thiết bị, trong khi hợp tác phát triển mới giúp tạo ra công nghệ cốt lõi, nâng cao năng lực thiết kế và quyền cải tiến.
Năng lực hấp thụ công nghệ của doanh nghiệp Việt Nam còn đối mặt với bốn điểm nghẽn lớn, gồm: tư duy quản trị và tổ chức tiếp cận công nghệ mới còn hạn chế; nguồn lực tài chính eo hẹp khiến doanh nghiệp vừa và nhỏ khó đáp ứng chi phí R&D dài hạn và rủi ro cao; liên kết nội bộ giữa doanh nghiệp với các viện nghiên cứu, trường đại học chưa chặt chẽ; liên kết hợp tác, liên doanh giữa doanh nghiệp nội địa và đối tác nước ngoài còn thiếu tính bền vững. “Bốn điểm nghẽn này dẫn đến khả năng hấp thụ năng lực công nghệ của Việt Nam còn hạn chế”, chuyên gia nhấn mạnh.
Bên cạnh đó, Tham tán thương mại Lê Thái Hòa cũng lưu ý các rào cản về tâm lý e ngại bất ổn an ninh khu vực, sự khác biệt trong tập quán kinh doanh khi phía Việt Nam muốn kiểm tra công nghệ cụ thể trong khi phía Israel thường cung cấp dịch vụ trọn gói, cũng như các vướng mắc về thủ tục pháp lý, tiêu chuẩn kỹ thuật và sở hữu trí tuệ… khiến cho hợp tác trong lĩnh vực công nghệ và đầu tư chưa phát huy được tiềm năng và thế mạnh vốn có của mỗi bên.
Để tháo gỡ khó khăn, ông Chen Peretz, Tham tán thương mại, Trưởng Văn phòng Kinh tế Israel tại Việt Nam, gợi ý doanh nghiệp Việt Nam cần tìm kiếm các đối tác địa phương tin cậy, đồng thời sẵn sàng chấp nhận rủi ro hơn khi hợp tác với các doanh nghiệp đổi mới sáng tạo ở giai đoạn phát triển sớm.
Ở cấp vĩ mô, chính phủ hai nước cần ban hành thêm các cơ chế khuyến khích, đơn giản hóa thủ tục hành chính, bảo hộ sở hữu trí tuệ và mở rộng các chuyến bay thẳng song phương.
Dự kiến vào đầu năm 2027, Diễn đàn kinh tế chung và phiên họp Ủy ban liên Chính phủ hai nước sẽ là dịp quan trọng để quy tụ các bộ, ngành cùng thảo luận cơ chế thúc đẩy hợp tác chuyên sâu.
Theo PGS. TS Ngô Trí Long, khi hợp tác công nghệ được triển khai hiệu quả, tác động tích cực sẽ không chỉ gói gọn ở từng doanh nghiệp riêng lẻ, mà tạo ra hiệu ứng lan tỏa mạnh mẽ, như thúc đẩy công nghiệp hỗ trợ, gia tăng nhu cầu về linh kiện, phụ trợ, bảo trì trong nước; nâng cao sức cạnh tranh của khối doanh nghiệp vừa và nhỏ; phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao; tăng cường vị thế trong chuỗi cung ứng.
Hợp tác Việt Nam và Israel cần phải được thực hiện theo các yêu cầu: Chuyển giao công nghệ phải gắn với việc đào tạo nhân lực; phải đa dạng hóa mạng lưới doanh nghiệp vừa và nhỏ; chính sách hỗ trợ phải hướng tới việc nghiên cứu chung, cải tiến công nghệ hay phát triển các nhà cung cấp ở trong nước.
“Thành công lớn nhất của hợp tác giữa Việt Nam và Israel không phải là có bao nhiêu doanh nghiệp được mua thiết bị, máy móc của Israel mà làm sao từ việc mua sắm thiết bị công nghệ đó phải trở thành bao nhiêu doanh nghiệp mạnh hơn và làm chủ công nghệ, nâng cao khả năng hấp thụ để tạo điều kiện nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả và đổi mới sáng tạo của các doanh nghiệp”, PGS. TS. Ngô Trí Long nhấn mạnh.
Hướng tới giai đoạn tiếp theo, ông Lê Thái Hòa cho rằng các cơ quan quản lý và cộng đồng doanh nghiệp cần tập trung vào ba nhóm giải pháp trọng tâm, gồm tối ưu hóa ưu đãi thuế quan VIFTA gắn liền với cải thiện hạ tầng logistics; chuyển dịch mô hình hợp tác từ mua bán sản phẩm sang nghiên cứu chung, thành lập liên doanh và đào tạo nhân lực tại chỗ; xây dựng mạng lưới kết nối linh hoạt, khuyến khích các cơ chế tài chính đồng tài trợ nghiên cứu hoặc cho thuê công nghệ.
![[Ảnh] Toàn cảnh Diễn đàn](https://premedia.vneconomy.vn/files/uploads/2026/10/30/dae8be0235224a968983c69971156872-131551.jpg?w=600&h=360&mode=crop)



Ngày 29/10/2026, tại Hà Nội, Tạp chí Kinh tế Việt Nam – VnEconomy tổ chức Diễn đàn “Phát triển công nghiệp dầu khí Việt Nam: Đảm bảo tăng trưởng bền vững”. Sự kiện quy tụ đông đảo các chuyên gia, nhà quản lý và doanh nghiệp nhằm tìm lời giải cho bài toán chuyển dịch năng lượng và định hình tương lai ngành Dầu khí...
Phân tích về bài toán an ninh năng lượng quốc gia, Đại sứ Vũ Quang Minh, nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao, nhấn mạnh tầm quan trọng của ngoại giao kinh tế, lợi thế chiến lược "friend-shoring" và việc hoàn thiện khung khổ pháp lý nhằm thu hút đầu tư quốc tế, tạo động lực vững chắc cho sự phát triển bền vững của ngành dầu khí Việt Nam...
Duy trì sản lượng khai thác trong nước, đẩy mạnh tìm kiếm dầu khí ở nước ngoài, phát triển chuỗi khí - điện, LNG và các nguồn năng lượng mới là những định hướng chiến lược Petrovietnam xác định nhằm bảo đảm tăng trưởng, an ninh năng lượng và thực hiện mục tiêu giảm phát thải...
Giá các mặt hàng xăng dầu trong nước đồng loạt tăng theo đà thế giới. Nguyên nhân chủ yếu do những bất ổn địa chính trị tại Trung Đông, xung đột Nga - Ukraine tiếp diễn cùng tồn kho dầu thô Mỹ giảm khiến giá nhiên liệu toàn cầu biến động...
Việt Nam giữ vị trí hàng đầu thế giới về chế biến và xuất khẩu nhân điều, nhưng lợi thế về quy mô chưa đồng nghĩa với khả năng giữ lại giá trị tương xứng. Bài toán được đặt ra không chỉ là bảo đảm nguồn nguyên liệu, mà còn phải thay đổi cách tạo giá trị, từ công nghệ chế biến đến thị trường tiêu thụ...
Theo nhận định của các chuyên gia, so với môi trường đầu tư cách đây vài năm thì thời điểm hiện tại nhà đầu tư cần chuyển hướng nhìn vào khả năng thanh khoản, khả năng đáp ứng nhu cầu thực... để dự án trở thành hàng hóa có khả năng thanh khoản. Nếu không sẽ dễ rơi vào tình cảnh tồn kho như số liệu Bộ Xây dựng vừa công bố mới đây.
Máy bay không người lái (drone) được mở rộng ứng dụng trong phun thuốc bảo vệ thực vật, gieo sạ và bón phân, góp phần cơ giới hóa sản xuất, giảm chi phí và nâng cao hiệu quả canh tác, hướng tới phát triển nông nghiệp hiện đại.