Giơ biển tranh luận với quan điểm của Chủ tịch VCCI Vũ Tiến Lộc về quy định giờ làm việc của người lao động, đại biểu Nguyễn Thị Quyết Tâm (Tp.HCM) đã nghẹn ngào, rơi nước mắt
Sáng 23/10, Quốc hội bắt đầu một ngày thảo luận tại hội trường về Bộ luật Lao động (sửa đổi).
Một trong những vấn đề ý kiến vẫn trái chiều gay gắt là quy định về phương án giờ làm thêm và giờ làm việc bình thường.
Báo cáo trước khi đại biểu thảo luận, Ủy ban Thường vụ Quốc hội nói rõ là không tán thành việc đề xuất mở rộng khung thỏa thuận giờ làm thêm tối đa nhưng Chính phủ vẫn mong muốn tiếp tục trình Quốc hội phương án tăng thời giờ làm thêm.
Về thời gian làm việc bình thường, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội cũng cho biết, một số ý kiến đại biểu Quốc hội và nhiều đoàn đại biểu Quốc hội đề nghị nghiên cứu để quy định người lao động làm việc theo chế độ 44 giờ/tuần. Một số ý kiến đề nghị cần hết sức cân nhắc khi thay đổi quy định về thời giờ làm việc bình thường trong bối cảnh hiện nay và nên giữ như quy định hiện hành về tuần làm việc 48 giờ.
Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) Vũ Tiến Lộc cho rằng giữ như quy định giờ làm việc bình thường như hiện nay là phù hợp với thực tiễn của nền kinh tế và rất nhân văn. Chúng ta quy định linh hoạt rằng thời gian làm việc tối đa là 48 giờ/tuần, Nhà nước khuyến khích giờ làm việc ít hơn là 40-44 giờ/tuần tùy thuộc điều kiện cụ thể của doanh nghiệp và thỏa thuận giữa chủ sử dụng lao động và người lao động, quy định này hợp lý, hợp tình, ông Lộc nói.
Chủ tịch VCCI cũng nhấn mạnh, theo tính toán sơ bộ thì riêng ngành thủy sản, dệt may, da giày, túi xách, điện tử, lương thực thực phẩm nếu giảm 4 giờ/tuần thì có thể giảm sản lượng kim ngạch xuất khẩu ít nhất 20 tỷ USD/năm. Điều này ảnh hưởng đến xuất khẩu, tăng trưởng kinh tế của đất nước, các doanh nghiệp FDI sẽ tìm đến những nền kinh tế có chi phí lao động thấp hơn để chuyển hướng đầu tư, Việt Nam sẽ khó duy trì tốc độ tăng trưởng dòng vốn đầu tư FDI, thậm chí có thể xảy ra tình trạng thoái lui trong đầu tư.
Dùng quyền tranh luận, đại biểu Nguyễn Thị Quyết Tâm tranh luận với đại biểu Vũ Tiến Lộc về quan điểm việc duy trì 48 giờ làm việc bình thường và tăng giờ làm thêm lên 400 giờ là hợp lý, nhân văn tự nguyện.
Đại biểu Nguyễn Thị Quyết Tâm tranh luận nảy lửa - Ảnh; QP
Cho rằng cần trao đổi để làm sáng tỏ vấn đề này, bà Tâm băn khoăn không biết ông Lộc nghe từ đâu, dựa trên cơ sở nào để biết là quy định giờ làm như trên là hợp lý, nhân văn và tự nguyện.
Nếu nghe từ người lao động thì tôi lấy làm lạ và thực sự bất ngờ vì tôi nghe rất nhiều công nhân phản ánh họ không muốn làm thêm giờ, mặc dù họ cần, cần vì tiền lương hiện nay thực sự không đủ để trang trải cuộc sống tối thiểu, bà Tâm nói.
Bà Tâm cũng nhấn mạnh là phải nhìn vào thực tế, tâm thế, dáng vẻ, nhìn vào cuộc sống thực tế của những người công nhân và nhất là phải nhìn vào những đứa trẻ mà cha mẹ phải gửi về quê (đến đây đại biểu Tâm khóc, nói trong nghẹn ngào), có người mẹ người cha nào muốn xa con mình hay không?
Vị đại biểu Tp.HCM cũng nhấn mạnh rằng, công nhân không tự nguyện làm thêm. Quốc hội phải làm chính sách thế nào để người công nhân có thời gian để nghỉ ngơi, chăm sóc gia đình, giải trí, học tập....đó là quyền con người được Hiến định.
Khi phát biểu đại biểu (đại biểu Lộc - PV) có nghĩ đến quyền hiến định đó không, có nghĩ đến sự nhân văn chính là bảo vệ quyền con người và tình người trong sử dụng lao động hay không? bà Tâm nói tiếp.
Chuông báo hết giờ trang luận, đại biểu Tâm nói thêm một ý: rằng sức cạnh tranh của nền kinh tế không nên dựa chủ yếu vào người lao động, giảm giờ làm việc xuống 44 giờ/ tuần thì người lao động có thể làm thêm và tăng thu nhập, đó là tiến bộ, nhân văn chính là ở chỗ đó.
Một số vị đại biểu sau đó cho rằng bức xúc của đại biểu Tâm là đúng, nhưng cũng có một số ý kiến khác cho rằng bối cảnh hiện nay chưa nên giảm giờ làm.
Trong xu thế chuyển dịch năng lượng toàn cầu, điện gió ngoài khơi đang vượt khỏi phạm vi của một nguồn điện tái tạo để trở thành một ngành công nghiệp mới, kéo theo cả hệ sinh thái từ khảo sát biển, chế tạo kết cấu, cáp và thiết bị điện, cảng biển, tàu dịch vụ, logistics, tài chính, bảo hiểm, đến vận hành, bảo dưỡng và công nghệ số. Để biến những cánh đồng gió ngoài khơi thành động lực tăng trưởng mới, Việt Nam cần đồng thời giải quyết bài toán quy hoạch không gian và nâng cao hiệu quả sử dụng năng lực công nghiệp ngoài khơi.
Muốn trở thành một quốc gia biển mạnh, Việt Nam không chỉ cần khai thác tốt hơn các nguồn lực từ biển mà còn phải từng bước làm chủ năng lực thiết kế, chế tạo, vận hành và cung cấp công nghệ cho các hoạt động trên biển.
Trong nhiều thập niên đã qua, lợi thế của du lịch biển thường được đo bằng số lượng bãi tắm đẹp hay lượng khách đến mỗi năm. Trong xu thế du lịch ngày càng cạnh tranh, những lợi thế ấy chỉ là điều kiện ban đầu.
Trong tiến trình chuyển dịch năng lượng, dầu khí Việt Nam đang đứng trước một bước ngoặt lớn: giá trị của ngành không còn chỉ được đo bằng sản lượng dầu, khí khai thác được từ lòng biển, mà ngày càng nằm ở năng lực khảo sát, thiết kế, chế tạo, lắp đặt, vận hành, bảo dưỡng, logistics, quản trị an toàn và làm chủ các công trình ngoài khơi. Nếu được nhìn nhận như một nền tảng công nghiệp và công nghệ, những năng lực được tích lũy qua nhiều thập kỷ có thể trở thành bệ phóng để Việt Nam bước vào các chuỗi giá trị mới.
Việt Nam đang sở hữu nguồn lợi hải sản và tài nguyên sinh học biển phong phú, từ nguồn gen, vi sinh vật, rong biển, vi tảo đến lượng lớn thủy sản. Tuy nhiên, lợi thế về sinh khối mới chỉ là điểm khởi đầu. Giá trị lớn hơn nằm ở khả năng phát hiện các hợp chất có hoạt tính sinh học, giải mã cơ chế, phát triển sản phẩm, làm chủ công nghệ tinh chế, tạo tài sản trí tuệ và đưa kết quả nghiên cứu ra thị trường.
Việt Nam luôn cần vốn ngoại để mở xưởng, tạo việc làm, thúc đẩy xuất khẩu và kết nối toàn cầu. Bước sang năm 2026, khi vị thế kinh tế đã khác, thu hút FDI của Việt Nam đòi hỏi chuẩn mực khắt khe hơn: phải xanh, số hóa, công nghệ cao, có sức lan tỏa và giúp Việt Nam từng bước làm chủ, tiến tới sở hữu công nghệ gốc.
Theo Tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên Hợp Quốc, xi măng đất sét nung (LC3) là vật liệu xây dựng mới và bền vững. Chi phí đầu tư thấp, thân thiện với môi trường và khí hậu hơn so với xi măng thông thường... việc phát triển, phổ biến xi măng hỗn hợp phù hợp với mục tiêu sản xuất và tiêu dùng bền vững mà Chính phủ đã đề ra.