Năm 2025, các chỉ tiêu kinh tế cơ bản đạt mục tiêu. Nổi bật là tăng trưởng GDP cả năm đạt 8,02%, và là mức tăng trưởng cao nhất trong 15 năm qua nếu trừ giai đoạn tăng trưởng từ nền thấp giai đoạn Covid-19 năm 2022. Trong khi đó, lạm phát cả năm chỉ ở mức 3,31%, thấp hơn so với dự kiến có thể tới 4,5%, và cũng thấp hơn khá nhiều so với trung bình 3,6% trong vòng 5 năm qua.
Các chỉ số phản ánh xu hướng hoạt động kinh tế như bán lẻ hàng hóa (RSI) đạt 9,8% so với cùng kỳ năm trước (yoy), sản xuất công nghiệp IIP đạt 10,1% (yoy), đều là các mức tăng trưởng cải thiện khá tốt sau giai đoạn Covid-19 và quan trọng là đang trên đường trở lại giai đoạn tăng trưởng bình thường. Chỉ số PMI, phản ánh kỳ vọng của giới sản xuất về các hoạt động kinh tế, cũng được cải thiện, liên tục nằm trên vùng mở rộng 50 điểm trong các tháng gần nhất và cuối năm ở mức 53,8%.
Về xu hướng giá cả, mặc dù có tăng, nhưng chỉ số CPI không cho thấy xu hướng tăng lên nhanh hay tăng mạnh sau một năm nới lỏng phục vụ tăng trưởng. Chỉ số CPI tháng 12/2025 tăng 3,48% (yoy) và lạm phát cơ bản tăng 3,27%, đều không phải là mức cao nhất trong vòng 12 tháng qua. Đáng chú ý, xu hướng tăng của lạm phát còn rất xa so với mục tiêu 4,5% của năm 2025 – con số mục tiêu được hiểu là chấp nhận mức cao để đạt mục tiêu tăng trưởng.
Như vậy, Việt Nam đã đạt mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao đặt ra đầu năm 2025 mà không gây ra lạm phát như lo ngại.
Mặc dù kết quả đạt được trong năm 2025 là ấn tượng, và được thể hiện không chỉ ở các chỉ số kinh tế đề cập trong bài viết này, vẫn còn nhiều yếu tố khiến chúng ta suy nghĩ về tính bền vững.
Thứ nhất, về cơ cấu tăng trưởng. Năm 2025, kim ngạch xuất nhập khẩu đạt kỷ lục 930 tỷ USD, tăng 18,2% so với năm 2024, đưa Việt Nam đứng trong nhóm 15 nước có hoạt động thương mại lớn nhất thế giới, nhưng kim ngạch xuất khẩu dựa chủ yếu vào khu vực có vốn đầu tư nước ngoài FDI, chiếm gần 80%.
Kim ngạch xuất khẩu của khu vực FDI tăng trưởng 26% trong khi kim ngạch xuất khẩu của các doanh nghiệp trong nước giảm 6% so với năm 2024. Điều này cho thấy khu vực kinh tế trong nước, đối tượng mà các chính sách tiền tệ và tài khóa nhắm tới, thực tế không đạt được sự phát triển như kỳ vọng trong lĩnh vực xuất khẩu.
Thứ hai, về đa dạng hóa thị trường. Mặc dù Việt Nam đã ký và có thỏa thuận thương mại đa phương và song phương với 17 tổ chức và quốc gia, là đối tác chiến lược và chiến lược toàn diện với nhiều quốc gia trên thế giới, FDI và đặc biệt là thương mại được tập trung vào một số đối tác và thị trường chính khiến cho rủi ro từ các chính sách bên ngoài có tác động lớn tới hoạt động kinh tế trong nước.
Theo số liệu đến cuối năm 2025, Trung Quốc là đối tác thương mại lớn, chiếm tới gần 30% kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam và Mỹ là thị trường lớn nhất, chiếm khoảng 30% kim ngạch xuất khẩu. Hệ quả là các cú sốc bên ngoài như thuế quan nhập khẩu của Mỹ hay các rào cản thương mại từ các đối tác như Trung Quốc nếu được áp đặt gần như sẽ ngay lập tức ảnh hưởng tới các hoạt động kinh tế trong nước. Điều này đòi hỏi một chiến lược tổng thể nhằm triển khai hiệu quả các hiệp định và các thỏa thuận chiến lược đã ký, vừa nhằm tôn trọng đối tác rằng chúng ta ký thật làm thật, vừa nhằm giảm thiểu rủi ro từ các cú sốc bên ngoài cho chính chúng ta.
Thứ ba, về động lực tăng trưởng. Chính sách tiền tệ và tăng trưởng tín dụng vẫn đóng vai trò chủ đạo. Theo số liệu từ Ngân hàng Nhà nước, năm 2025, tăng trưởng tín dụng lên tới 19,1%, trong khi trung bình các năm trước đây chỉ khoảng 15%. Tỷ trọng tín dụng so với GDP lên tới 146%, là mức cao nhất trong số các nước có thu nhập trung bình tương đồng như Việt Nam. Trong khi đó, tăng trưởng tiền gửi chỉ vào khoảng 14% khiến cho sức ép tăng lãi suất đến sớm.
Tăng trưởng phụ thuộc tín dụng dẫn tới hệ quả không mong muốn: một mặt, giá tài sản tăng tạo rủi ro bong bóng; mặt khác, chi phí đầu vào cũng tăng nhanh hơn do lãi suất tăng trong khi đáng ra nên ở mức thấp càng lâu càng tốt để hỗ trợ nền sản xuất và kinh tế thực. Điều này đòi hỏi một cách tiếp cận mới về mô hình tăng trưởng, trung hạn là đẩy mạnh vai trò của chính sách tài khóa và dài hạn là sự thay đổi tư duy “làm thế nào”, hướng tới nâng cao năng lực chung của nền kinh tế.
Thứ tư, một động lực tăng trưởng khác được kỳ vọng là chính sách tài khóa và đầu tư công chưa thực sự phát huy vai trò. Tính đến cuối năm 2025, tỷ lệ đầu tư công chỉ đạt 70% so với kế hoạch, trong khi trần thâm hụt ngân sách được nới từ 4 lên 4,5% GDP và tỷ trọng chi tiêu công so với GDP cũng lên tới 7,5%, là mức cao nhất từ năm 2012 đến nay. Điều này cho thấy năng lực quản lý và vận hành chi tiêu đầu tư công chưa đáp ứng yêu cầu và cần cải thiện.
Các lý thuyết kinh tế thường đề cập bốn nguồn lực chính của các hoạt động kinh tế, bao gồm: ba nguồn lực truyền thống là vốn, lao động và đất đai, cùng với nguồn lực thứ tư là khả năng sử dụng ba nguồn lực truyền thống đó – có thể gọi là công nghệ hoặc doanh trí. Ba nguồn lực kinh tế truyền thống là khan hiếm và có giới hạn, do vậy công nghệ/doanh trí sẽ quyết định sự thay đổi tiềm năng hay năng lực của các hoạt động kinh tế về dài hạn.
Các chính sách kinh tế cũng thường theo hướng trọng cầu, tức là tác động phía cầu, với ý tưởng có cầu sẽ dẫn dắt cung. Khi các chính sách kinh tế được đưa ra nhằm mục tiêu tăng trưởng kinh tế nhưng năng lực của nền kinh tế không đáp ứng, tất yếu sẽ dẫn tới sự tăng giá – lạm phát và nguy cơ bong bóng tài sản. Nói một cách bình dân, kích thích kinh tế trong khi năng lực còn yếu có thể dẫn tới tăng trưởng nóng nhưng không bền vững.
Để hiểu tại sao chúng ta cần một mô hình tăng trưởng mới, hãy bắt đầu bằng việc xác định chúng ta đang ở đâu và có nhiệm vụ gì. Năm 2026, Quốc hội đã thông qua mục tiêu tăng trưởng kinh tế hơn 10%, nhưng đảm bảo tăng trưởng bền vững, kiểm soát lạm phát lạm phát không quá 4,5% và giữ ổn định kinh tế vĩ mô. Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước cũng được yêu cầu điều hành chính sách tiền tệ và tài khóa linh hoạt nhằm đạt mục tiêu tăng trưởng, đồng thời đảm bảo cân đối các biến số vĩ mô lớn như lạm phát và tỷ giá.
Tuy nhiên, Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính tiền tệ Quốc gia đã đưa ra khuyến nghị với Chính phủ về việc không nên mở rộng chính sách tiền tệ, điều hành thận trọng hơn, do những lo ngại rủi ro đối với nền kinh tế. Hội đồng cũng đề nghị phối hợp một cách hợp lý giữa chính sách tiền tệ với chính sách tài khóa; tập trung vào chuyển đổi số, công nghệ cao, công nghệ thông tin, hạ tầng số, đổi mới sáng tạo.
Ngân hàng Nhà nước sau đó cũng đưa ra mục tiêu tăng trưởng tín dụng 15% cho năm 2026, là mức bình thường trong những năm qua, nhưng thấp hơn mục tiêu 16% đặt ra hồi đầu năm 2025. Ngân hàng Nhà nước cũng đưa ra thông điệp sẽ điều hành chính sách tiền tệ linh hoạt, kiểm soát lạm phát và ổn định tỷ giá và theo dõi chặt chẽ tín dụng vào khu vực rủi ro bong bóng cao là bất động sản.
Như vậy, có thể thấy rằng chúng ta mong muốn tăng trưởng trong một bối cảnh các nguồn lực truyền thống đang ở mức giới hạn. Khuyến cáo của Hội đồng Tư vấn là một cảnh báo quan trọng và trực tiếp về rủi ro của mô hình tăng trưởng phụ thuộc quá nhiều vào chính sách tiền tệ lỏng và tăng trưởng tín dụng. Trong ngắn hạn thì mô hình đó có thể phù hợp, nhưng về dài hạn, đó không phải là một mô hình bền vững.
Lựa chọn thay thế hoặc bổ trợ cho chính sách tiền tệ được nhắc tới nhiều nhất là chính sách tài khóa và đầu tư công. Tuy nhiên, nếu chỉ đơn thuần đẩy mạnh chi tiêu và đầu tư công, đó cũng chưa phải là giải pháp cho mô hình tăng trưởng dài hạn nếu năng lực triển khai đầu tư công hạn chế, hoặc ít nhất còn bị chi phối bởi e ngại sự ràng buộc trách nhiệm và cơ chế.
Ngay cả trong năm 2025, là năm mà quyết tâm tăng trưởng rất cao và Chính phủ quyết tâm thực hiện, tỷ lệ chi tiêu công cũng chỉ ở mức gần đạt kế hoạch. Điều này gắn với một quá trình cải cách hành chính và thể chế, tạo ra cơ chế phù hợp nhằm cởi trói tư duy trong việc thực thi đầu tư công.
Chính phủ đang có các bước đi đúng. Về mục đích đầu tư công, Chính phủ đã khởi động một chương trình phát triển hạ tầng đầy tham vọng, dựa trên nguồn vốn công và tư nhân, với việc triển khai 250 dự án quy mô lớn trải rộng trên toàn quốc – từ giao thông và logistics đến nhà ở và năng lượng – không chỉ nhằm thúc đẩy đầu tư công đơn thuần, mà còn nhằm cải thiện khả năng liên kết và kết nối hạ tầng kinh tế, tạo nền tảng nâng cao năng lực của nền kinh tế về dài hạn.
Về mặt thể chế (mô hình quản trị), năm 2025 được đánh dấu khá rõ nét bởi cam kết cải cách thể chế và nâng cao hiệu quả quản trị. Chính phủ đã nhấn mạnh việc tinh gọn tổ chức bộ máy gắn với phân cấp, phân quyền như một phần trong nỗ lực tổng thể nhằm tăng hiệu quả và trách nhiệm ra quyết định trên toàn quốc với việc sáp nhập các tỉnh, thành phố và tập trung hoạt động của bộ máy hành chính ở cấp cao hơn thay vì sự dàn trải và cồng kềnh tới cấp xã như trước đây.
Về tư duy kinh tế, một cải cách quan trọng là việc ban hành Nghị quyết số 79-NQ/TW về kinh tế nhà nước và Nghị quyết 68-NQ/TW về kinh tế tư nhân. Hai nghị quyết này đều tập trung vào các vấn đề thuộc về nâng cao năng lực của nền kinh tế - là một nhân tố nền tảng có thể thay đổi mô hình tăng trưởng truyền thống, với sự nhấn mạnh vào bốn từ: đổi mới, sáng tạo, quản trị và minh bạch. Hai nghị quyết tạo ra một sự bổ trợ cho nhau, với khu vực kinh tế tư nhân là động lực quan trọng nhất của tăng trưởng và tạo việc làm, còn khu vực kinh tế nhà nước giữ vai trò định hướng và ổn định tăng trưởng, tập trung vào các lĩnh vực chiến lược bao gồm năng lượng, hạ tầng và tài chính.
Hai nghị quyết này, nếu triển khai và thực thi nghiêm túc, có thể thay đổi căn bản tình trạng hiện tại của khu vực kinh tế tư nhân là năng lực cạnh tranh yếu, khó tiếp cận vốn và công nghệ; của khu vực kinh tế nhà nước là hiệu quả sử dụng vốn thấp, thiếu minh bạch và quản trị lạc hậu. Nghĩa là, nếu những điều này trở thành hiện thực, cùng với hoạt động đầu tư công hướng tới hạ tầng và cải cách thể chế hướng tới hiệu quả nêu trên, nền kinh tế có thể có sự thay đổi căn bản mô hình tăng trưởng truyền thống vốn dựa phần lớn vào tín dụng trong gần 40 năm qua từ khi Đổi mới năm 1986.
Nếu Đổi mới 1986 giúp chuyển đổi cách nghĩ từ nền kinh tế từ tập trung bao cấp và kế hoạch hóa sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thì những gì đang diễn ra trong năm 2025 và 2026 đánh dấu khởi đầu của sự thay đổi quan trọng trong cách làm. Nói cách khác, sau gần 40 năm loay hoay với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chúng ta đã bắt đầu định hình rõ nét hơn làm thế nào để đi trên con đường đó. Tôi cho rằng chúng ta nên gọi đó là Đổi mới 2 để đánh dấu một giai đoạn chuyển biến lớn của cách quản trị quốc gia và cách làm kinh tế.
Thị trường chứng khoán phản ánh các kỳ vọng kinh tế. Năm 2025, thị trường chứng khoán Việt Nam đã có những kết quả nổi bật, không chỉ ở việc chỉ số tăng trưởng tốt, mà còn ở việc tổ chức FTSE Russell đã thông báo chính thức nâng hạng thị trường chứng khoán Việt Nam từ thị trường cận biên lên thị trường mới nổi thứ cấp.
Sự kiện nâng hạng không chỉ giúp xác nhận các nỗ lực không mệt mỏi của Chính phủ trong việc phát triển thị trường vốn, một thành phần quan trọng của kinh tế thị trường, mà còn giúp Việt Nam có thể thu hút trở lại các nguồn vốn nước ngoài phục vụ cho quá trình phát triển kinh tế. Sự quyết tâm trong việc phát triển thị trường vốn, thu hút nguồn lực nước ngoài cho tăng trưởng kinh tế, cũng được thể hiện bởi quyết tâm xây dựng Trung tâm Tài chính quốc tế tại Thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng.
Với những nỗ lực trong việc xây dựng nền tảng cho một mô hình tăng trưởng mới và hạ tầng thị trường vốn tiệm cận thông lệ quốc tế, chúng ta hoàn toàn có thể tin tưởng vào sự phát triển bền vững của thị trường chứng khoán Việt Nam. Nếu như trước đây thị trường bị chi phối chủ yếu bởi chu kỳ tiền tệ, bởi sự bơm thổi về doanh nghiệp, dẫn tới bong bóng nở và vỡ, tạo ra các cú tăng giảm lớn, thì từ bây giờ, chúng ta có thể kỳ vọng rằng thị trường sẽ vận hành dựa trên các yếu tố cơ bản của nền kinh tế và doanh nghiệp.
Thực tế, các doanh nghiệp tốt và có triển vọng đã và sẽ được nhà đầu tư tìm đến. Những vụ việc làm giá hay bơm thổi cổ phiếu gần như đã không còn phổ biến. Sự đổi mới về cách làm kinh tế đã dẫn tới sự thay đổi về cách “chơi” chứng khoán: “đầu tư” chứng khoán.
Cuối cùng, tôi muốn gửi tới những nhà đầu tư chứng khoán rằng rất có thể từ nay chúng ta sẽ không còn phải tự hỏi tại sao cùng phụ thuộc vào chính sách tiền tệ nhưng sao chứng khoán nước ngoài không có “cây thông” mà Việt Nam lại nhiều thế. Chúc các bạn một năm mới đầu tư thành côn
Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 7+8-2026 phát hành ngày 16-23/02/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-78-xuan-binh-ngo.html
Thuế đối ứng của Mỹ có ảnh hướng thế nào đến chứng khoán?
Chính sách thuế quan mới của Mỹ, đặc biệt với mức thuế đối ứng 20% áp dụng từ ngày 7/8/2025 (giảm từ 46% sau đàm phán), có tác động đáng kể đến kinh tế Việt Nam do sự phụ thuộc lớn vào xuất khẩu sang Mỹ (chiếm ~30% kim ngạch xuất khẩu). Dưới đây là phân tích ngắn gọn về các ảnh hưởng chính: