Biển Việt Nam: Những lợi thế và tài sản đặc biệt quan trọng

Đại dương đang được tái định vị từ không gian chủ yếu để khai thác tài nguyên thành không gian tăng trưởng, đổi mới sáng tạo và cạnh tranh chiến lược, đây chính là bối cảnh mới để nhìn nhận kinh tế biển Việt Nam. Phát triển kinh tế biển không còn chỉ là khai thác tốt hơn những nguồn lực Việt Nam đang có, mà còn là xác lập vị trí của Việt Nam trong cấu trúc đang thay đổi của kinh tế đại dương toàn cầu.

Biển Việt Nam: Những lợi thế và tài sản đặc biệt quan trọng

Trong lịch sử, đại dương thường được nhìn nhận qua ba chức năng chủ yếu: nơi cung cấp tài nguyên, không gian vận tải và địa bàn chiến lược. Ngày nay, cách nhìn về đại dương đang có nhiều thay đổi, trên cùng một không gian đại dương đang đồng thời diễn ra các hoạt động vận tải và logistics, khai thác và nuôi trồng thủy sản, dầu khí, năng lượng tái tạo ngoài khơi, du lịch, công nghiệp biển, hạ tầng viễn thông, nghiên cứu khoa học, công nghệ sinh học, bảo tồn đa dạng sinh học và ngày càng nhiều dịch vụ dựa trên dữ liệu... Vì vậy, đại dương đang được tái định vị từ không gian chủ yếu để khai thác tài nguyên thành không gian tăng trưởng, đổi mới sáng tạo và cạnh tranh chiến lược.

Đây chính là bối cảnh mới để nhìn nhận kinh tế biển Việt Nam. Phát triển kinh tế biển không còn chỉ là khai thác tốt hơn những nguồn lực Việt Nam đang có, mà còn là xác lập vị trí của Việt Nam trong cấu trúc đang thay đổi của kinh tế đại dương toàn cầu. Do đó, lợi thế biển của Việt Nam cần được nhìn như một danh mục tài sản biển đa lớp, ít nhất gồm: (1) Tài sản vị thế; (2) Tài sản không gian; (3) Tài sản tự nhiên và sinh thái; (4) Tài sản kết nối và (5) Những tài sản do con người tạo lập như hạ tầng, dữ liệu, doanh nghiệp, khoa học - công nghệ, thể chế và quan hệ quốc tế về biển. Những tài sản này không tồn tại độc lập mà nằm trong mối quan hệ tương tác qua lại với nhau.

Lợi thế lớn nhất của Việt Nam không chỉ là sở hữu một tổng thể tài nguyên vượt trội, mà còn ở khả năng kết hợp nhiều lớp tài sản trên cùng một không gian biển có vị trí địa kinh tế quan trọng.

VỊ TRÍ TRÊN BIỂN ĐÔNG LÀ MỘT TÀI SẢN ĐỊA KINH TẾ

Nhóm tài sản biển đầu tiên của Việt Nam là tài sản vị thế. Đây không phải là tài nguyên theo nghĩa vật chất mà hình thành từ vị trí tương đối của lãnh thổ Việt Nam đối với Biển Đông, các trung tâm kinh tế châu Á, các hành lang hàng hải và các không gian kinh tế lục địa. Tài sản vị thế khác với tài nguyên hữu hình ở một đặc điểm rất quan trọng là: nó không bị khai thác cạn như dầu khí hay khoáng sản; nhưng giá trị của nó cũng không tự động được tạo ra mà phụ thuộc vào những chức năng kinh tế mà quốc gia có khả năng tổ chức trên vị trí đó.

Việt Nam có hơn 3.260 km bờ biển, vùng biển và vùng đặc quyền kinh tế rộng hơn 1 triệu km2, cùng hơn 3.000 đảo với hệ thống cửa sông, vũng vịnh, đảo và quần đảo tạo ra nhiều điểm tiếp cận từ đất liền ra biển. Điểm đặc biệt quan trọng là vị trí của Việt Nam hướng ra Biển Đông - không gian nằm trên các tuyến kết nối giữa Đông Bắc Á với Đông Nam Á, Nam Á, Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương, đồng thời nằm kề các trung tâm sản xuất và thương mại lớn của Đông Á và Đông Nam Á. Vị trí địa lý ấy tạo cho Việt Nam khả năng trở thành điểm kết nối giữa các dòng lưu chuyển trên biển với nền kinh tế đất liền.

VnEconomy

Hơn thế nữa, Việt Nam không chỉ hướng ra đại dương mà biển Việt Nam còn có khả năng kết nối với một hậu phương kinh tế rộng lớn trên đất liền. Các vùng cửa sông, vũng vịnh và các hành lang giao thông từ nội địa ra biển tạo điều kiện để cảng biển trở thành cửa ngõ cho các trung tâm sản xuất trong nước và ở một số hành lang, cho các không gian kinh tế trên bán đảo Đông Dương.

Đây là điều làm tài sản vị thế của Việt Nam có tính đặc biệt: một mặt tiếp cận các dòng lưu chuyển trên biển, mặt khác có khả năng nối những dòng lưu chuyển đó với không gian sản xuất, tiêu dùng và dịch vụ trên đất liền, làm cửa ngõ ra biển của nội địa và làm đầu cầu trên đất liền của các tuyến giao thương qua Biển Đông.

Vị trí địa lý chỉ là tài sản tiềm năng, nếu tàu chỉ đi ngang vùng biển Việt Nam hầu như không tạo ra giá trị trực tiếp cho nền kinh tế. Giá trị chỉ hình thành khi vị trí được chuyển thành các chức năng như cảng, trung chuyển, logistics, vận tải, sửa chữa tàu, cung ứng nhiên liệu, dịch vụ kỹ thuật, tài chính, dữ liệu hoặc các dịch vụ hàng hải khác…

TÀI SẢN KHÔNG GIAN

Nhóm tài sản thứ hai không phải là một loại tài nguyên cụ thể mà là không gian biển. Vùng biển Việt Nam có quy mô lớn gấp trên 3 lần phần lãnh thổ đất liền và trải từ vùng bờ, cửa sông, bãi triều, vũng vịnh, đầm phá, đảo ven bờ đến vùng xa bờ và các khu vực nước sâu hơn. Không gian đó không đồng nhất về địa hình, địa chất, thủy văn và hệ sinh thái; chính sự phân hóa này tạo ra khả năng bố trí nhiều chức năng khác nhau.

Báo cáo hiện trạng môi trường biển và hải đảo quốc gia giai đoạn 2021–2025 ghi nhận 114 cửa sông, trên 3.000 hòn đảo và một hệ thống địa hình ven biển rất đa dạng, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển cảng biển và các hoạt động kinh tế biển khác.

Giá trị của tài sản không gian nằm ở khả năng cùng một vùng biển có thể đồng thời chứa nhiều loại tài sản như: sinh vật, khoáng sản, năng lượng, cảnh quan, hệ sinh thái; có thể đồng thời đảm nhiệm nhiều chức năng như: hàng hải, khai thác và nuôi trồng thủy sản, dầu khí, năng lượng tái tạo, du lịch, bảo tồn, cáp ngầm, nghiên cứu khoa học, quốc phòng - an ninh và các hoạt động kinh tế biển mới.

Giá trị mang lại của tài sản không gian biển phụ thuộc vào khả năng bố trí và phối hợp nhiều chức năng kinh tế, sinh thái và chiến lược trên một không gian hữu hạn. Giá trị của tài sản này phụ thuộc rất lớn vào quy hoạch không gian biển: một đơn vị không gian được tổ chức tốt có thể tạo nhiều dòng giá trị tương thích; ngược lại, bố trí xung đột có thể khiến một ngành phát triển và làm giảm giá trị của ngành khác. Công nghệ càng phát triển, số chức năng có thể bố trí trên biển càng tăng, khiến không gian biển trở thành nguồn lực hữu hạn cần được quản trị khoa học có chủ đích dài hạn thống nhất.

TÀI SẢN TÀI NGUYÊN TỰ NHIÊN

Nhóm tài sản tài nguyên tự nhiên là những nguồn lực vật chất và năng lượng có thể khai thác từ biển: từ nguồn lợi sinh vật, dầu khí và khoáng sản đến nguồn năng lượng tái tạo quy mô lớn. Đây là nhóm gần nhất với cách hiểu truyền thống về “tài nguyên biển”, nhưng cấu trúc của nó đang thay đổi rất nhanh.

Báo cáo hiện trạng môi trường biển và hải đảo quốc gia cho thấy vùng biển Việt Nam có trên 11.000 loài thủy sản, sinh vật biển. Kết quả điều tra nguồn lợi thủy sản giai đoạn 2011–2020 cho thấy trữ lượng tức thời của nguồn lợi thủy sản toàn vùng biển Việt Nam khoảng 3,95 triệu tấn; khả năng khai thác khoảng 2,834 triệu tấn. Tài sản sinh vật, nguồn lợi thủy sản là tài sản có khả năng tái tạo, nhưng không vô hạn.

Tài liệu Quy hoạch không gian biển ghi nhận xu hướng suy giảm nguồn lợi cả về thành phần loài và chất lượng, liên quan tới khai thác quá mức, ô nhiễm và các sức ép kinh tế – xã hội. Nguồn lợi thủy sản ước tính đã giảm từ hơn 5 triệu tấn trong giai đoạn 2000-2005 xuống còn 3,9 triệu tấn trong giai đoạn 2016-2020, tương đương giảm khoảng 22%. Vì vậy, giá trị của tài sản sinh vật không thể được đo chỉ bằng sản lượng khai thác trong một năm; cần đồng thời tính đến khả năng duy trì vốn gốc để tạo dòng thu nhập trong tương lai.

Nhóm tài nguyên dầu khí và khoáng sản: đã hình thành một nguồn tài sản lớn ở thềm lục địa, đồng thời còn mở ra triển vọng ở vùng biển sâu. Trong danh mục tài nguyên biển của Việt Nam, dầu khí là loại tài sản đã được điều tra, thăm dò và chuyển hóa thành giá trị kinh tế ở quy mô lớn nhất trong nhiều thập niên qua. Tuy nhiên, tiềm năng dầu khí không phân bố đồng đều mà gắn với hệ thống các bể trầm tích trên thềm lục địa và vùng biển Việt Nam.

Tài liệu Quy hoạch không gian biển xác định các bể có triển vọng dầu khí gồm Sông Hồng, Phú Khánh, Cửu Long, Nam Côn Sơn, Malay – Thổ Chu, Tư Chính – Vũng Mây, Trường Sa và Hoàng Sa; trong đó bốn bể đã có phát hiện và khai thác dầu khí là Cửu Long, Nam Côn Sơn, Malay – Thổ Chu và Sông Hồng. Trữ lượng dầu mỏ Việt Nam khoảng 4,4 tỷ thùng, xếp thứ 28 trong số 52 quốc gia có trữ lượng dầu mỏ xác minh trên thế giới và đứng đầu khu vực Đông Nam Á. Trữ lượng khí đã xác minh của Việt Nam đạt khoảng 0,6 nghìn tỷ m3, đứng thứ ba trong khu vực.

Tập đoàn dầu khí Việt Nam đã và đang triển khai hoạt động khai thác dầu khí tại 36 mỏ với 21 hợp đồng dầu khí trong vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của thềm lục địa Việt Nam, có 5 hệ thống đường ống dẫn khí, 3 nhà máy xử lý khí.

Giàn Tam Đảo 03 va Tam Đảo 05 trên mỏ Bạch Hổ.
Giàn Tam Đảo 03 va Tam Đảo 05 trên mỏ Bạch Hổ.

Bên cạnh dầu khí, cấu trúc địa chất đa dạng tạo cho vùng biển và ven biển Việt Nam một danh mục khoáng sản tương đối phong phú. Khoáng sản biển nổi bật là sa khoáng titan – zircon ven bờ, vật liệu xây dựng và triển vọng khoáng sản chiến lược ở biển sâu.

Báo cáo hiện trạng môi trường biển và hải đảo quốc gia 2021–2025 ghi nhận khoảng 35 loại khoáng sản ở vùng biển và thềm lục địa, trong đó đáng chú ý là sa khoáng titan, zircon, một số khoáng sản kim loại hiếm và nguồn vật liệu xây dựng biển - ven biển.

Kết quả điều tra địa chất – khoáng sản ở một số vùng biển, bước đầu đã nhận diện, khoanh định 62 vùng sa khoáng Ti–Zr–TR (titan–zircon–đất hiếm) với tổng tài nguyên dự báo khoảng 164 triệu tấn, cùng 50 vùng triển vọng vật liệu xây dựng với tổng tài nguyên dự báo khoảng 200 tỷ m3.

Các con số trên mới chỉ là số liệu điều tra bước đầu tại một số vùng biển, song đã cho thấy khoáng sản biển Việt Nam có cấu trúc tài sản trải từ ven bờ đến biển sâu, nhưng phần lớn vẫn ở cấp tài nguyên dự báo hoặc vùng triển vọng, chưa phải trữ lượng thương mại có thể khai thác. Đây vừa là tiềm năng chiến lược, vừa đặt ra yêu cầu tiếp tục điều tra, đánh giá khả năng khai thác, hiệu quả kinh tế và tác động môi trường trước khi chuyển thành tài sản kinh tế thực sự.

Nhóm tài nguyên đang nổi lên nhanh chóng là năng lượng tái tạo điện gió ngoài khơi, một lớp tài sản mới đang được công nghệ biến tiềm năng thành giá trị và là nguồn chuyển dịch năng lượng.

Quy hoạch điện VIII điều chỉnh đánh giá tiềm năng kỹ thuật điện gió ngoài khơi khoảng 600.000 MW, đồng thời dự báo ước tính công suất nguồn điện gió ngoài khơi để sản xuất năng lượng mới khoảng 15.000 MW vào năm 2035 và khoảng 240.000 MW vào năm 2050. Những con số này cho thấy tài nguyên gió có khả năng mở rộng từ sản xuất điện sang hydro, amoniac và các chuỗi năng lượng mới.

Sự đặc biệt của danh mục tài nguyên biển Việt Nam là ba nhóm tài nguyên có bản chất khác nhau cùng tồn tại, đó là: tài nguyên hữu hạn như dầu khí và khoáng sản; tài nguyên sinh vật có khả năng tái tạo nhưng dễ suy giảm nếu khai thác không khoa học; và nguồn năng lượng tái tạo có khả năng khai thác tăng lên cùng tiến bộ công nghệ. Điều này đòi hỏi ba logic quản trị khác nhau là: khai thác tiết kiệm và chuyển đổi giá trị đối với tài nguyên hữu hạn; duy trì vốn gốc đối với tài nguyên sinh vật; và xây dựng công nghiệp, hạ tầng cùng thể chế đối với năng lượng tái tạo.

TÀI SẢN VỐN THIÊN NHIÊN, SINH THÁI, CẢNH QUAN VÀ DI SẢN

Nếu nhóm tài nguyên khoáng sản chủ yếu tạo giá trị thông qua khai thác hoặc sử dụng, thì nhóm tài sản thứ tư có bản chất khác: quá trình khai thác sẽ tạo ra giá trị mới trong khi tài sản vẫn được duy trì. Đó là các hệ sinh thái, đa dạng sinh học, cảnh quan và di sản biển.

Biển và đại dương có mức độ đa dạng sinh học cao và cung cấp nhiều dịch vụ hệ sinh thái thiết yếu cho phát triển kinh tế – xã hội, bao gồm nguồn lợi thủy sản, hấp thụ và lưu trữ carbon, bảo vệ bờ biển, phát triển du lịch và các giá trị văn hóa – xã hội.

Hệ sinh thái rừng ngập mặn, rạn san hô, cỏ biển, bãi triều, cửa sông và đảo cùng lúc tạo ra nhiều dòng lợi ích như: nơi cư trú và sinh sản của sinh vật; nguồn lợi thủy sản; bảo vệ bờ; lưu trữ carbon; du lịch; cảnh quan và các giá trị văn hóa - xã hội.

Khu dự trữ sinh quyển châu thổ sông Hồng được UNESCO ghi nhận với tổng diện tích 105.558 ha, trong đó 39.235 ha là diện tích biển. Khu vực này tập hợp cửa sông, đất ngập nước, rừng ngập mặn, bãi bồi, bãi biển và thảm cỏ biển, đồng thời nằm trên tuyến di cư quan trọng của các loài chim nước.

Cảnh quan địa chất – địa mạo cũng là một lớp vốn tự nhiên đặc biệt. Không gian biển Việt Nam có nhiều dạng địa hình cửa sông, châu thổ, đầm phá, vũng vịnh, bãi triều, cồn cát, bờ đá, địa hình karst và hệ thống đảo đa dạng có nhiều bãi biển, vách đá, vịnh và thắng cảnh đã trở thành nền tảng cho du lịch. Giá trị của những tài sản này nằm ở tính độc đáo và khả năng tạo dòng lợi ích kéo dài nếu cảnh quan và chất lượng môi trường được bảo vệ, duy trì và khai thác hợp lý.

Nhóm tài sản này còn bao gồm di sản văn hóa biển như: lịch sử giao thương, làng biển, nghề cá, lễ hội, tri thức bản địa, thương cảng, kiến trúc và những dấu tích lịch sử gắn với quá trình khai phá, quản lý và bảo vệ biển đảo.

Điểm cần quan tâm đối với những hệ sinh thái này là khai thác chúng phải đi đôi với gìn giữ, bảo vệ để tạo ra giá trị tăng thêm ngoài giá trị tự thân của các tài nguyên thiên nhiên vốn có. Nếu khai thác làm suy giảm những tài sản sinh thái này để đổi lấy một dòng thu nhập ngắn hạn thì thực chất nền kinh tế đang tiêu dùng và bào mòn vốn gốc. Đó là lý do bảo tồn và phát triển không nhất thiết đối lập nhau.

Trong nhiều trường hợp, bảo tồn chính là cách duy trì tài sản để tiếp tục tạo dòng giá trị trong tương lai. Điều này làm cho quyết định sử dụng vốn tự nhiên phải dựa trên giá trị tổng thể, không chỉ trên doanh thu trực tiếp của từng hoạt động đầu tư cụ thể.

TÀI SẢN KẾT NỐI VÀ TÀI SẢN ĐƯỢC TẠO LẬP

Bốn nhóm tài sản nêu trên phần lớn bắt nguồn từ điều kiện địa lý và tự nhiên. Nhóm thứ năm này có bản chất khác, đó là tài sản con người có thể chủ động tạo ra, tích lũy và nâng cấp, bao gồm: cảng biển, logistics, hạ tầng giao thông, khu kinh tế và công nghiệp ven biển, đô thị, hạ tầng năng lượng, dữ liệu biển, năng lực khảo sát, khoa học - công nghệ, doanh nghiệp và các thể chế tổ chức quản trị biển.

Đây chính là lớp tài sản quyết định ngày càng nhiều giá trị kinh tế của bốn nhóm tài sản trước, qua các mối quan hệ như: vị trí chỉ trở thành năng lực logistics khi có cảng và mạng kết nối; gió chỉ trở thành điện và công nghiệp khi có khảo sát, truyền tải, cảng, chuỗi cung ứng và vốn; nguồn lợi chỉ trở thành chuỗi thực phẩm giá trị cao khi có giống, chế biến, logistics lạnh, tiêu chuẩn và thương hiệu.

Cảng và logistics - biến vị trí thành giá trị mang lại

Việt Nam đã hình thành một mạng lưới cảng chạy dọc bờ biển. Trong năm 2025, tổng khối lượng hàng hóa thông qua cảng biển và cảng thủy nội địa ước đạt khoảng 1,17 tỷ tấn (tăng 12% so với năm 2024); hàng container ước đạt 34,36 triệu TEU (tăng 11%).

Giá trị đặc biệt của hệ thống cảng không chỉ nằm ở số lượng bến hay sản lượng thông qua. Cảng còn trở thành cầu nối giữa 3 loại không gian: biển quốc tế - dải kinh tế ven biển - các trung tâm sản xuất trong đất liền. Khi cảng được kết nối với logistics, khu công nghiệp, đô thị và giao thông hậu phương, cùng một luồng hàng có thể tạo thêm giá trị sản xuất, chế biến, kho vận, thương mại, sửa chữa, bảo hiểm và dịch vụ.

Dữ liệu - biến không gian chưa biết thành tài sản có thể quản trị

Một lớp tài sản được tạo lập ngày càng quan trọng là dữ liệu đại dương. Đến hết năm 2025, diện tích vùng biển Việt Nam được điều tra cơ bản địa chất - khoáng sản đạt khoảng 38,7%.

Dữ liệu không làm xuất hiện thêm gió, dầu khí hay khoáng sản, nhưng làm giảm bất định về tài sản, qua đó giúp quy hoạch, định giá rủi ro, thu hút nguồn lực và ra quyết định đầu tư tốt hơn. Do vậy, dữ liệu là tài sản làm tăng giá trị của các tài sản khác và là cơ sở để ra quyết định biến tiềm năng thành hiện thực.

Hạ tầng, công nghiệp, doanh nghiệp và thể chế - biến tài nguyên thành chuỗi giá trị

Điện gió ngoài khơi sẽ mãi là tiềm năng năng lượng tự nhiên nếu không có cảng phù hợp, lưới truyền tải, công nghiệp cơ khí, tàu dịch vụ, năng lực khảo sát, vận hành - bảo dưỡng và tài chính dự án. Ngược lại, nếu những năng lực đó hình thành, tài sản không còn chỉ là “gió” mà trở thành một hệ sinh thái công nghiệp ngoài khơi.

Nguồn lợi thủy sản sẵn có từ biển tạo ra sản phẩm ban đầu, nhưng giá trị tăng mạnh khi gắn với giống, thiết bị, logistics lạnh, chế biến sâu, tiêu chuẩn, truy xuất nguồn gốc và thương hiệu. Điều này cho thấy tài sản được tạo lập là “hệ số nhân” của tài sản tự nhiên.

Thể chế cũng là một phần của lớp tài sản do con người tạo ra. Một không gian biển có quy hoạch rõ, dữ liệu mở, quyền sử dụng ổn định và cơ chế cấp phép minh bạch, sẽ làm tăng khả năng huy động vốn và các hoạt động đầu tư, trong khi bản thân tài nguyên không thay đổi.

Lớp tài sản thứ năm quyết định ngày càng nhiều giá trị của bốn lớp còn lại. Tài nguyên có thể do tự nhiên tạo ra, nhưng giá trị kinh tế của tài nguyên phần lớn do năng lực quốc gia tạo ra. Một quốc gia có thể không thay đổi được vị trí địa lý, nhưng có thể thay đổi chất lượng cảng; không thể tạo ra một hệ sinh thái tự nhiên mới trong thời gian ngắn, nhưng có thể bảo vệ hoặc làm mất nó; không thể dịch chuyển Biển Đông, nhưng có thể thay đổi vị trí của mình trong các chuỗi giá trị đi qua Biển Đông.<

(*) GS.TS. Hoàng Văn Cường, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam.

Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 42-2026 phát hành ngày 19/10/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây: 

Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-42-2026.html

VnEconomy

Quy hoạch không gian biển: Từ phân bổ không gian đến kiến tạo phát triển

Không gian biển đang trở thành một trong những nguồn lực phát triển chiến lược của Việt Nam, nhưng đây cũng là nguồn lực hữu hạn khi ngày càng nhiều ngành kinh tế cùng tìm kiếm những khu vực có điều kiện thuận lợi nhất để phát triển. Trong bối cảnh đó, quy hoạch không gian phải trở thành công cụ kiến tạo giá trị, điều phối các lợi ích và tổ chức những không gian phát triển đa mục tiêu…

Đức và Pháp bắt tay vực dậy ngành ô tô, thúc đẩy cuộc đua xe điện

Thỏa thuận giữa Đức và Pháp hướng tới bảo vệ ngành công nghiệp ô tô châu Âu trước sức ép cạnh tranh từ Trung Quốc, đồng thời thúc đẩy đầu tư, nghiên cứu và sản xuất xe điện (EV). Tuy nhiên, đề xuất nới lỏng mục tiêu giảm phát thải từ năm 2035 cũng đặt ra bài toán cân bằng giữa sức cạnh tranh công nghiệp và tham vọng khí hậu của khu vực…

Nga: Rosatom dự kiến xây thêm 4 nhà máy điện hạt nhân nổi mô-đun nhỏ (SMR) thế hệ mới

Rosatom dự kiến xây dựng thêm 4 nhà máy điện hạt nhân nổi tại Nga, sau khi nhà máy Akademik Lomonosov đi vào vận hành tại vùng Viễn Đông. Cùng với việc phát triển các lò phản ứng mô-đun nhỏ (SMR) thế hệ mới, tập đoàn này đặt mục tiêu đưa công nghệ điện hạt nhân nổi ra thị trường quốc tế từ năm 2030…

Việt Nam luôn cần vốn ngoại để mở xưởng, tạo việc làm, thúc đẩy xuất khẩu và kết nối toàn cầu. Bước sang năm 2026, khi vị thế kinh tế đã khác, thu hút FDI của Việt Nam đòi hỏi chuẩn mực khắt khe hơn: phải xanh, số hóa, công nghệ cao, có sức lan tỏa và giúp Việt Nam từng bước làm chủ, tiến tới sở hữu công nghệ gốc.

81 năm Quốc khánh 2/9 (1945-2026)

81 năm Quốc khánh 2/9 (1945-2026)

Ngày 2/9/1945 đã mở ra bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không chỉ khẳng định quyền độc lập, tự do và tự quyết về chính trị, mà còn trao...

VnEconomy Interactive

VnEconomy Interactive

Interactive là một sản phẩm báo chí mới của VnEconomy vừa được ra mắt bạn đọc từ đầu tháng 3/2023 đã gây ấn tượng mạnh với độc giả bởi sự mới lạ, độc đáo. Đây cũng là sản phẩm độc quyền chỉ có trên...

VnEconomy
VnEconomy