Đằng sau mỗi con tàu, mỗi công trình ngoài khơi phải là một hệ sinh thái công nghiệp đủ sâu để hình thành và đưa vào hoạt động trong cả vòng đời. Khi đó, biển không chỉ là không gian khai thác tài nguyên mà còn trở thành thị trường cho một nền công nghiệp chế tạo mới - công nghiệp của đại dương.
Trong nhiều thập kỷ, khi nói đến công nghiệp biển, hình ảnh dễ được liên tưởng nhất vẫn là những nhà máy đóng tàu, ụ tàu, cầu cảng và các xưởng cơ khí nằm dọc theo các cửa sông, vịnh biển. Đó là một phần quan trọng của công nghiệp biển, nhưng chưa phải công nghiệp biển theo cách hiểu đầy đủ.
Công nghiệp biển là tập hợp các ngành sản xuất công nghiệp có hoạt động gắn liền với khai thác và phục vụ trực tiếp cho biển, thềm lục địa và đại dương. Công nghiệp biển cần được nhìn rộng là một hệ sinh thái bao gồm: đóng và sửa chữa tàu, kết cấu và thiết bị ngoài khơi phục vụ khai thác dầu khí, thiết bị điện gió, thiết bị hàng hải, cáp, vật liệu, robot, cảm biến, thiết bị nuôi biển, phần mềm và hệ thống điều khiển, giám sát không gian biển. Đây chính là bước chuyển quan trọng trong tư duy về một quốc gia biển: không chỉ có nền kinh tế sử dụng biển, mà còn phải có nền công nghiệp đứng phía sau các hoạt động kinh tế biển.
Việt Nam có một lợi thế mà không phải quốc gia nào cũng có, đó là: đường bờ biển dài, hệ thống cảng biển ngày càng phát triển, đội tàu, hoạt động khai thác dầu khí, thủy sản, du lịch, logistics, các khu kinh tế ven biển và một không gian biển rộng lớn gắn với nhiều hoạt động kinh tế. Để những lợi thế ấy chuyển hóa thành năng lực cạnh tranh quốc gia, một câu hỏi căn bản cần được trả lời: Việt Nam sẽ tự mình làm chủ được bao nhiêu sản phẩm, thiết bị và công nghệ phục vụ biển?
Câu hỏi này có thể được làm sáng tỏ qua ví dụ ngành đóng tàu. Một nhà máy đóng tàu có thể sở hữu cầu tàu, ụ tàu, nhà xưởng và đội ngũ công nhân lành nghề, nhưng nếu phần lớn thiết bị, vật tư và công nghệ quan trọng vẫn phải nhập khẩu thì giá trị mà nhà máy giữ lại cho nền kinh tế trong nước sẽ còn rất nhỏ. Ngược lại, khi phía sau nhà máy là mạng lưới doanh nghiệp cung cấp thép, động cơ, thiết bị điện, cáp, máy móc boong, thiết bị điều khiển, vật liệu hàn, sơn, nội thất, phần mềm và dịch vụ kỹ thuật… thì khi đó khi hoàn thành một đơn hàng đóng tàu sẽ tạo ra hiệu ứng lan tỏa lớn cho nền kinh tế.
Trong hệ sinh thái công nghiệp tàu thủy, phạm vi của công nghiệp phụ trợ được xác định tương đối rộng, bao gồm: thép đóng tàu, động cơ diesel, hộp số, trục, chân vịt, thiết bị điện, cáp, tủ bảng điện, hệ thống tự động điều khiển, thiết bị hàng hải, thiết bị boong, nồi hơi, bơm, van, vật liệu chống ăn mòn, vật liệu cách nhiệt, nội thất và trang bị nội thất. Điều đó cho thấy bản chất của ngành đóng tàu là một ngành tích hợp nhiều ngành công nghiệp khác nhau.
Một con tàu có thể trở thành “khách hàng” của ngành thép; ngành cơ khí chính xác; ngành điện - điện tử; công nghiệp vật liệu; công nghệ thông tin; tự động hóa; logistics; dịch vụ kiểm định; đào tạo nhân lực kỹ thuật và rất nhiều lĩnh vực khác. Đến lượt mình, các ngành này phát triển sẽ cung cấp các yếu tố đầu vào cho phát triển kết cấu ngoài khơi, điện gió, thủy sản và các thiết bị nuôi biển. Vì vậy, nếu chỉ nhìn đóng tàu như một ngành sản xuất đơn lẻ, chúng ta sẽ không đánh giá được hết tác động lan tỏa của nó cũng như từ đó hình thành lên một hệ sinh thái cho ngành công nghiệp biển. Đây cũng là lý do việc củng cố công nghiệp phụ trợ, hình thành hệ sinh thái công nghiệp biển phải được xem là một phần quan trọng của chiến lược phát triển kinh tế biển.
Bên cạnh đó, một quốc gia biển mạnh không chỉ cần năng lực làm chủ các hoạt động kinh tế biển mà đồng thời phải làm chủ về năng lực an ninh, quốc phòng bảo vệ chủ quyền biển đảo. Hình thành một hệ sinh thái để tạo nền tảng công nghiệp biển mạnh cũng chính là củng cố nền tảng cho năng tự chủ chiến lược của đất nước.
Một trong những câu hỏi thường được đặt ra khi nói về phát triển công nghiệp chế tạo là: Việt Nam lấy đâu ra thị trường đủ lớn cho phát triển?
Với công nghiệp biển, câu trả lời có thể nằm ngay trong quá trình phát triển nền kinh tế biển của chính Việt Nam. Nếu vận tải biển phát triển, đội tàu cần được đóng mới, sửa chữa và bảo dưỡng. Nếu cảng biển phát triển, cần cẩu, thiết bị xếp dỡ, hệ thống điện, điều khiển và phương tiện dịch vụ là cần thiết. Nếu dầu khí ngoài khơi phát triển thì cần có tàu dịch vụ, cần có kết cấu thép, thiết bị cơ khí, hệ thống điện và điều khiển.
Nếu nuôi biển xa bờ phát triển, sẽ xuất hiện nhu cầu về lồng nuôi, phao, cảm biến môi trường, hệ thống cho ăn, tàu dịch vụ, thiết bị quan trắc và logistics lạnh. Nếu điện gió ngoài khơi được triển khai, thị trường sẽ mở rộng sang tàu chuyên dụng, kết cấu móng, thiết bị nâng, cáp, trạm điện, hệ thống giám sát và phương tiện vận hành – bảo dưỡng. Tóm lại, mỗi lĩnh vực kinh tế biển phát triển đều tạo thêm một thị trường mới cho công nghiệp biển phát triển.
Các ngành kinh tế biển truyền thống kết hợp với những lĩnh vực mới như điện gió, nuôi biển, hàng hải xanh và biển sâu có thể tạo nên thị trường nội địa đủ lớn cho ngành chế tạo biển. Cách tiếp cận này rất quan trọng bởi công nghiệp chế tạo không thể phát triển chỉ bằng các chính sách hỗ trợ phía cung. Doanh nghiệp cần đơn hàng thực tế, cần khách hàng, cần cơ hội thử nghiệm sản phẩm và cần một thị trường đủ lớn để giảm chi phí sản xuất. Trong giai đoạn đầu, thị trường nội địa có thể đóng vai trò như một “phòng thử nghiệm quy mô lớn”.
Một doanh nghiệp Việt Nam sản xuất thiết bị trên tàu sẽ dễ tích lũy kinh nghiệm hơn nếu có các chủ tàu trong nước đặt hàng. Một doanh nghiệp chế tạo cảm biến biển sẽ có cơ hội hoàn thiện sản phẩm nếu có các trang trại nuôi biển hoặc dự án ngoài khơi sử dụng sản phẩm. Một doanh nghiệp phát triển phần mềm quản lý đội tàu sẽ có điều kiện hoàn thiện sản phẩm nếu được triển khai trên các đội tàu trong nước.
Sau khi đạt đủ độ tin cậy, chất lượng và chứng nhận, doanh nghiệp mới có thể tiến ra thị trường quốc tế. Đây chính là mô hình phát triển mà nhiều nền công nghiệp thành công đã từng trải qua, đó là: thị trường trong nước tạo lực kéo ban đầu, còn xuất khẩu tạo lực đẩy để doanh nghiệp nâng chuẩn.
Theo Tổ chức Hàng hải quốc tế (IMO), ngành hàng hải đang phải đầu tư lớn cho quá trình giảm phát thải, bao gồm nhiên liệu thay thế, hạ tầng cảng và các công nghệ mới. Đây không chỉ là câu chuyện môi trường, mà còn là một cuộc thay đổi về công nghệ và cấu trúc thị trường, là mở ra hướng đi cho các ngành công nghiệp mới.
Đối với Việt Nam, chuyển đổi xanh của hàng hải có thể trở thành một cơ hội phát triển các hoạt động công nghiệp mới, như: cung cấp nhiên liệu sạch hơn cho tàu biển; cảng biển cần hạ tầng cung cấp nhiên liệu có kiểm soát ô nhiễm; tàu cần trang bị thêm thiết bị giám sát ô nhiễm; doanh nghiệp cần phần mềm tối ưu cung ứng và tiêu thụ nhiên liệu; đội tàu cần các giải pháp cải tiến thiết bị và bảo dưỡng mới. Thị trường đó không chỉ dành cho những tập đoàn lớn, mà mở ra hàng loạt thị trường ngách cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa có năng lực thích ứng với những yêu cầu của thay đổi kỹ thuật mới.
Nếu muốn hình thành công nghiệp biển có chiều sâu, Việt Nam không thể tiếp tục phát triển các nhà máy riêng lẻ, biệt lập. Một nhà máy đóng tàu cần cảng; cảng cần logistics; logistics cần kho bãi. Nhà máy cần nhà cung cấp thép, thiết bị, vật tư. Doanh nghiệp cần dịch vụ kiểm định, sửa chữa, đào tạo và tài chính. Tất cả những hoạt động này có lợi thế khi được tập trung trong cùng một không gian kinh tế. Đó là logic của cụm cảng - công nghiệp.
Các khu kinh tế ven biển và cụm cảng - công nghiệp là địa bàn hình thành những cụm công nghiệp chuyên môn hóa trong chuỗi cung ứng công nghiệp biển. Mô hình này có thể được phát triển theo từng vùng dựa trên lợi thế hiện hữu, thay vì áp dụng một công thức giống nhau cho mọi địa phương.
Điều quan trọng là không nhất thiết địa phương nào cũng phải có một “siêu nhà máy đóng tàu”. Thay vào đó, mỗi cụm có thể lựa chọn một số mắt xích mà mình có lợi thế nhất, ví dụ như: có nơi chuyên đóng tàu; có nơi chuyên chế tạo thiết bị boong; có nơi phát triển cơ khí chính xác; có nơi chuyên cáp điện và thiết bị điều khiển; có nơi tập trung sửa chữa, bảo dưỡng; có nơi phát triển phần mềm và dữ liệu biển. Một mạng lưới như vậy sẽ hiệu quả hơn việc các địa phương cùng chạy đua đầu tư vào tất cả các loại nhà máy.
Ở tầm quốc gia, việc hình thành các trung tâm kinh tế biển mạnh cũng cần được gắn với việc hình thành các trung tâm công nghiệp và công nghệ biển. Đây không chỉ là nơi tập trung nhà máy, mà còn phải là nơi hội tụ doanh nghiệp dẫn dắt, doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ, viện nghiên cứu, trường đại học, trung tâm thử nghiệm - chứng nhận, cảng biển, logistics và các dịch vụ kỹ thuật.
Mỗi trung tâm có thể lựa chọn một số lợi thế riêng thay vì phát triển tất cả các ngành, ví dụ: có trung tâm lấy đóng tàu và logistics làm hạt nhân; có trung tâm chuyên về thiết bị ngoài khơi và năng lượng; có trung tâm phát triển công nghệ nuôi biển; có trung tâm tập trung vào cơ khí, vật liệu và thiết bị hàng hải. Cách tổ chức này vừa tạo quy mô thị trường, vừa giúp hình thành các chuỗi cung ứng có chiều sâu.
Một cụm công nghiệp biển không chỉ có nhà máy, mà cần đường giao thông đủ tải, cảng chuyên dụng, điện ổn định, nước công nghiệp, xử lý chất thải, kho bãi, trung tâm logistics, hệ thống cứu hộ, cơ sở đào tạo và nhà ở cho người lao động.
Đối với các sản phẩm ngoài khơi, còn cần những bến có khả năng tiếp nhận cấu kiện lớn, khu vực lắp ráp module và năng lực vận chuyển siêu trường, siêu trọng.
Do đó, quy hoạch công nghiệp biển phải đi cùng quy hoạch cảng biển, không gian biển và hạ tầng năng lượng.
Một trong những nguy cơ lớn nhất đối với chiến lược công nghiệp biển là đầu tư dàn trải. Việt Nam có nhu cầu rất lớn về thiết bị biển, nhưng không có nghĩa là chúng ta phải sản xuất tất cả mọi thứ. Trong một chuỗi giá trị toàn cầu, việc lựa chọn đúng một số phân khúc có khả năng cạnh tranh quan trọng hơn việc sở hữu một danh mục sản phẩm quá rộng, nhưng không có sản phẩm nào đạt quy mô đủ lớn.
Do đó, cần lựa chọn sản phẩm dựa trên năng lực hiện có, lợi thế vượt trội, quy mô thị trường và khả năng xuất khẩu, tránh đầu tư dàn trải, không đủ để tạo bứt phá và dẫn dắt thị trường. Đây cần được xem là nguyên tắc xuyên suốt của chiến lược công nghiệp biển. Việt Nam có thể cân nhắc một số nhóm sản phẩm mà năng lực nền tảng đã tương đối rõ.
Thứ nhất, đóng mới, sửa chữa và cải hoán các loại tàu chuyên dụng, đặc biệt là những phân khúc phù hợp với năng lực nhà máy và có thị trường quốc tế.
Thứ hai, kết cấu thép và module ngoài khơi, tận dụng năng lực cơ khí và kinh nghiệm chế tạo hiện có.
Thứ ba, thiết bị phụ trợ và thiết bị boong, nơi có thể từng bước tăng tỷ lệ sản xuất trong nước.
Thứ tư, thiết bị điện, điều khiển và tự động hóa hàng hải, một lĩnh vực có giá trị gia tăng cao và khả năng kết hợp với nền tảng điện tử – công nghệ thông tin.
Thứ năm, thiết bị phục vụ nuôi biển công nghiệp: từ lồng, neo, cảm biến đến tự động hóa và phần mềm.
Thứ sáu, tàu và thiết bị phục vụ năng lượng ngoài khơi, nhất là các phương tiện dịch vụ, bảo dưỡng và vận chuyển.
Thứ bảy, phần mềm, dữ liệu và dịch vụ kỹ thuật biển, nơi không đòi hỏi vốn vật chất lớn như một nhà máy đóng tàu, nhưng đòi hỏi chất lượng nhân lực rất cao.
Thứ tám, dịch vụ vòng đời, bao gồm sửa chữa, cải hoán, nâng cấp, bảo trì, dự báo, kiểm định và quản lý tài sản biển.
Danh mục này không phải là một “danh sách đóng”, mà nên được xem như những hướng có thể nghiên cứu để xây dựng chiến lược sản phẩm quốc gia.
Danh mục sản phẩm mũi nhọn trong tương lai cũng cần được mở rộng theo sự xuất hiện của những thị trường biển mới. Nghị quyết số 20-NQ/TW năm 2026 đã định hướng phát triển nhiều lĩnh vực có hàm lượng công nghệ cao như: nuôi biển công nghiệp, công nghệ sinh học biển, y dược biển, khử mặn nước biển, năng lượng từ sóng, hydrogen và ammonia xanh, cùng các công nghệ phục vụ hoạt động ngoài khơi và biển sâu. Điều này mở ra cách nhìn mới về công nghiệp biển để Việt Nam tận dụng lợi thế của mình.
Đến năm 2045, câu hỏi quan trọng không phải là Việt Nam có bao nhiêu nhà máy đóng tàu, mà là Việt Nam có thể làm chủ đến đâu những công nghệ đứng phía sau các hoạt động trên biển.
Một quốc gia biển mạnh cần đội tàu mạnh và kéo theo đó là cần các hoạt động hỗ trợ mạnh như: đóng tàu, công nghiệp thép, cơ khí, điện - điện tử, tự động hóa, vật liệu... Như vậy, các lĩnh vực không tồn tại riêng rẽ, đó là một hệ sinh thái. Trong hệ sinh thái ấy, những nhà máy đóng tàu lớn và các cơ sở đóng tàu khác có thể đóng vai trò hạt nhân. Các cơ sở công nghiệp quốc phòng có thể đóng góp năng lực kỹ thuật phù hợp. Các doanh nghiệp khác sẽ cùng góp sức để tạo nên sản phẩm hoàn chỉnh.
Thực tế hiện nay ở Việt Nam cho thấy nền tảng ban đầu đã hình thành, như lĩnh vực đóng tàu đã có nhà máy đầu ngành đang duy trì mạng lưới đóng và sửa chữa dọc bờ biển; một số nhà máy có vốn, công nghệ hoặc hợp tác quốc tế đang tham gia vào những phân khúc và sản phẩm chuyên dụng, những phân khúc kỹ thuật cao như tàu dịch vụ điện gió ngoài khơi. Từ công nghiệp phục vụ dầu khí, đã tích lũy được năng lực công trình ngoài khơi về kết cấu biển, hàn, nâng hạ siêu trường - siêu trọng, an toàn, điện - điều khiển ngoài khơi… đã có thể chuyển sang những thị trường sản phẩm kỹ thuật mới như thực hiện kỹ thuật, mua sắm, chế tạo và cung cấp chân đế điện gió ngoài khơi, đảm nhận vai trò nhà thầu EPCC chính các trạm biến áp ngoài khơi cho đối tác quốc tế.
Những tín hiệu đó cho thấy Việt Nam không bắt đầu từ con số 0. Vấn đề là phải kết nối những năng lực đang phân tán thành một hệ sinh thái có tổ chức.
Con đường phía trước không nhất thiết là xây dựng thật nhiều nhà máy mới. Cách tiếp cận hiệu quả là nâng cấp những năng lực đã có, lựa chọn một số phân khúc có khả năng cạnh tranh, tạo thị trường ban đầu, kết nối doanh nghiệp lớn với doanh nghiệp nhỏ, đầu tư cho thiết kế và R&D, xây dựng hệ thống thử nghiệm - chứng nhận và từng bước đưa doanh nghiệp vào chuỗi cung ứng quốc tế. Đó là cách tạo ra đột phá mà không cần đầu tư dàn trải.
Khi những sản phẩm như vậy được xuất khẩu, Việt Nam không chỉ xuất khẩu một sản phẩm mà còn xuất khẩu các hàng hóa/dịch vụ như thiết kế, thiết bị, phần mềm, dịch vụ kỹ thuật, tiêu chuẩn, kinh nghiệm. Và cao hơn nữa, xuất khẩu năng lực công nghiệp biển. Đó mới là bước chuyển từ một quốc gia có biển sang một quốc gia biển mạnh.
Vì vậy, tầm nhìn đến năm 2045 nên lựa chọn là: “Việt Nam có một hệ sinh thái công nghiệp biển đủ sâu, đủ mở và đủ sức cạnh tranh quốc tế”. Một hệ sinh thái phát triển liên hoàn từ thép, cơ khí, điện - điện tử, tự động hóa, vật liệu, phần mềm, robot, cảm biến và dữ liệu cùng phát triển; các khu kinh tế ven biển và cụm cảng - công nghiệp trở thành những trung tâm sản xuất chuyên môn hóa; thị trường trong nước tạo bệ phóng, còn thị trường quốc tế tạo áp lực nâng chuẩn. Đó chính là con đường để biển không chỉ tạo ra tăng trưởng cho Việt Nam, mà còn tạo ra một nền công nghiệp mới của Việt Nam.
(*) GS.TS. Hoàng Văn Cường, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam
Nội dung bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 42-2026 phát hành ngày 19/10/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-42-2026.html
Trong xu thế chuyển dịch năng lượng toàn cầu, điện gió ngoài khơi đang vượt khỏi phạm vi của một nguồn điện tái tạo để trở thành một ngành công nghiệp mới, kéo theo cả hệ sinh thái từ khảo sát biển, chế tạo kết cấu, cáp và thiết bị điện, cảng biển, tàu dịch vụ, logistics, tài chính, bảo hiểm, đến vận hành, bảo dưỡng và công nghệ số. Để biến những cánh đồng gió ngoài khơi thành động lực tăng trưởng mới, Việt Nam cần đồng thời giải quyết bài toán quy hoạch không gian và nâng cao hiệu quả sử dụng năng lực công nghiệp ngoài khơi.
Trong nhiều thập niên đã qua, lợi thế của du lịch biển thường được đo bằng số lượng bãi tắm đẹp hay lượng khách đến mỗi năm. Trong xu thế du lịch ngày càng cạnh tranh, những lợi thế ấy chỉ là điều kiện ban đầu.
Trong tiến trình chuyển dịch năng lượng, dầu khí Việt Nam đang đứng trước một bước ngoặt lớn: giá trị của ngành không còn chỉ được đo bằng sản lượng dầu, khí khai thác được từ lòng biển, mà ngày càng nằm ở năng lực khảo sát, thiết kế, chế tạo, lắp đặt, vận hành, bảo dưỡng, logistics, quản trị an toàn và làm chủ các công trình ngoài khơi. Nếu được nhìn nhận như một nền tảng công nghiệp và công nghệ, những năng lực được tích lũy qua nhiều thập kỷ có thể trở thành bệ phóng để Việt Nam bước vào các chuỗi giá trị mới.
Việt Nam đang sở hữu nguồn lợi hải sản và tài nguyên sinh học biển phong phú, từ nguồn gen, vi sinh vật, rong biển, vi tảo đến lượng lớn thủy sản. Tuy nhiên, lợi thế về sinh khối mới chỉ là điểm khởi đầu. Giá trị lớn hơn nằm ở khả năng phát hiện các hợp chất có hoạt tính sinh học, giải mã cơ chế, phát triển sản phẩm, làm chủ công nghệ tinh chế, tạo tài sản trí tuệ và đưa kết quả nghiên cứu ra thị trường.
Với đường bờ biển dài, nằm gần các tuyến hàng hải quốc tế quan trọng và là một trong những nền kinh tế có độ mở thương mại cao, Việt Nam đứng trước cơ hội lớn để nâng tầm vị thế trong mạng lưới hàng hải và logistics khu vực. Tuy nhiên, cạnh tranh hàng hải hiện nay đang chuyển sang cuộc đua về chất lượng dịch vụ rất mạnh mẽ. Do đó, Việt Nam cần phải hình thành một hệ sinh thái hàng hải đủ mạnh để chuyển hóa lợi thế vị trí địa lý thành năng lực hàng hải thực sự.
Việt Nam luôn cần vốn ngoại để mở xưởng, tạo việc làm, thúc đẩy xuất khẩu và kết nối toàn cầu. Bước sang năm 2026, khi vị thế kinh tế đã khác, thu hút FDI của Việt Nam đòi hỏi chuẩn mực khắt khe hơn: phải xanh, số hóa, công nghệ cao, có sức lan tỏa và giúp Việt Nam từng bước làm chủ, tiến tới sở hữu công nghệ gốc.
Cận thị bệnh lý (cận thị thoái hóa/cận thị ác tính) là dạng cận thị nghiêm trọng và nguy hiểm nhất. Khác với cận thị thông thường, bệnh liên quan đến sự kéo dài bất thường và liên tục của trục nhãn cầu, dẫn đến các tổn thương cấu trúc ở đáy mắt và có nguy cơ cao gây mù lòa.