Ở thôn Hạ Vũ, xã Hoằng Hóa, khu sản xuất rộng hơn 3 ha của Hợp tác xã Dịch vụ Nông nghiệp công nghệ cao Hoằng Đạt tạo ấn tượng khác biệt ngay từ cách bố trí những khu nhà màng, nhà lưới. Bên trong, các loại rau, quả được trồng nối tiếp nhau theo từng mùa vụ. Màu xanh của cây cối, những luống rau ngay ngắn cùng hệ thống tưới được bố trí khoa học tạo nên một không gian sản xuất hiện đại nhưng vẫn gần gũi với đồng quê.
Ít ai nghĩ rằng nơi đây trước kia chủ yếu gắn với những thửa ruộng canh tác truyền thống. Sự thay đổi bắt đầu từ cách nghĩ của những người trực tiếp làm nông nghiệp, trong đó có anh Lê Ngọc Nam, Giám đốc Hợp tác xã.
Lớn lên từ đồng ruộng, anh Nam hiểu những nhọc nhằn của nghề nông khi người sản xuất phải phụ thuộc nhiều vào thời tiết, sâu bệnh và thị trường. Cùng một diện tích đất nhưng giá trị tạo ra không cao, trong khi chi phí đầu vào ngày càng tăng. Từ thực tế đó, anh cho rằng muốn nông nghiệp phát triển bền vững thì không thể chỉ trông chờ vào kinh nghiệm mà cần thay đổi phương thức sản xuất, đưa khoa học kỹ thuật vào từng công đoạn.
Năm 2019, anh cùng các cộng sự thành lập Hợp tác xã Dịch vụ Nông nghiệp công nghệ cao Hoằng Đạt, từng bước đầu tư nhà màng, nhà lưới để sản xuất rau, quả.
Theo anh Nam, điều quan trọng nhất của sản xuất trong nhà màng, nhà lưới là tạo ra môi trường để người trồng chủ động hơn với cây trồng. Những tác động bất lợi từ thời tiết được hạn chế, trong khi quá trình sinh trưởng của cây có thể được theo dõi và điều chỉnh sát hơn.
Hệ thống tưới nhỏ giọt được đưa vào sử dụng để cung cấp nước và dinh dưỡng trực tiếp đến từng gốc cây. Thay vì tưới tràn hoặc tưới theo kinh nghiệm, lượng nước và dinh dưỡng được điều tiết phù hợp với từng loại cây, từng giai đoạn phát triển. Nhờ đó, lượng nước và phân bón thất thoát được hạn chế, đồng thời giảm chi phí sản xuất.
Cách phòng trừ sâu bệnh cũng được thay đổi. Hợp tác xã ưu tiên các biện pháp phòng ngừa, sử dụng bẫy, bả và các giải pháp sinh học để hạn chế côn trùng. Việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật hóa học được giảm dần, chỉ thực hiện khi thực sự cần thiết và phải tuân thủ quy định.
Những thay đổi tưởng như nằm ở từng công đoạn nhỏ nhưng khi được thực hiện đồng bộ lại tạo ra sự khác biệt khá lớn trong cách vận hành trang trại.
“Trên cùng một diện tích, trồng lúa chỉ canh tác được 2 vụ/năm. Nhưng chuyển sang rau, quả, có sự hỗ trợ của các giải pháp kỹ thuật thì có thể luân canh liên tục nhiều loại cây. Hệ số quay vòng đất tăng lên, sản phẩm cũng có thể lựa chọn thời điểm phù hợp để đưa ra thị trường”, anh Nam chia sẻ.
Với cách làm này, đất không chỉ được sử dụng hiệu quả hơn mà người sản xuất cũng có thêm cơ hội thử nghiệm những giống cây mới. Mỗi mùa vụ trở thành một lần đánh giá khả năng thích nghi của cây trồng, từ đó tích lũy thêm kinh nghiệm.
Anh Nam cho rằng đây chính là một trong những giá trị quan trọng của việc ứng dụng khoa học kỹ thuật vào nông nghiệp. Người nông dân không còn chỉ làm theo những gì đã quen thuộc mà bắt đầu quan sát, thử nghiệm, ghi nhận kết quả và điều chỉnh phương pháp sản xuất.
Trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng khó lường, dịch bệnh trên cây trồng có thể phát sinh bất cứ lúc nào, trong khi yêu cầu của thị trường về chất lượng và nguồn gốc sản phẩm ngày càng cao, sự thay đổi ấy càng trở nên cần thiết.
Tất nhiên, con đường chuyển đổi không phải lúc nào cũng dễ dàng. Chi phí đầu tư nhà màng, nhà lưới, hệ thống tưới và thiết bị phục vụ sản xuất ban đầu khá lớn. Với những hộ quen phương thức canh tác truyền thống, đây là khoản đầu tư cần cân nhắc.
Nhưng theo anh Nam, hiệu quả chỉ có thể thuyết phục người nông dân bằng chính kết quả trên đồng ruộng. Hiện các sản phẩm của Hợp tác xã được tiêu thụ qua hệ thống siêu thị, cửa hàng thực phẩm sạch, bếp ăn tập thể và khách hàng quen. Giá bán một số sản phẩm thường cao hơn thị trường khoảng 20%, nhưng đầu ra tương đối ổn định. Hợp tác xã duy trì doanh thu hơn 1 tỷ đồng/năm.
Cà chua là một ví dụ. Trong khi cà chua sản xuất đại trà ngoài thị trường có thời điểm bán khoảng 10.000 - 12.000 đồng/kg, sản phẩm của Hợp tác xã có giá 25.000 - 30.000 đồng/kg.
Sự chênh lệch về giá không đơn thuần đến từ tên gọi “nông sản an toàn”. Theo anh Nam, sản xuất theo quy trình an toàn đòi hỏi chi phí đầu vào cao hơn, nhiều công đoạn chăm sóc hơn và sản lượng cũng thấp hơn so với phương thức đại trà. Bởi vậy, thị trường vẫn là bài toán cần được giải quyết song song với sản xuất.
“Điều quan trọng là phải giúp người tiêu dùng hiểu được giá trị của sản phẩm an toàn. Khi họ hiểu vì sao một sản phẩm có giá cao hơn và giá trị nằm ở đâu, thị trường sẽ có thêm cơ sở để mở rộng”, anh Nam nói.
Khi hoạt động sản xuất dần đi vào ổn định, Hợp tác xã tiếp tục tìm hướng phát triển mới: kết hợp sản xuất nông nghiệp với du lịch trải nghiệm.
Ý tưởng này xuất phát từ chính đặc thù của mô hình. Một trang trại sản xuất rau, quả an toàn nếu được tổ chức phù hợp không chỉ tạo ra nông sản mà còn có thể trở thành không gian để học sinh, gia đình và du khách tìm hiểu về cây trồng, cách chăm sóc và quy trình tạo ra một sản phẩm an toàn.
Tuy nhiên, để mở cửa đón khách, quy trình sản xuất phải được kiểm soát nghiêm ngặt hơn. Hợp tác xã từng bước xây dựng quy trình theo tiêu chuẩn VietGAP, hướng hữu cơ, giảm phụ thuộc vào phân bón và thuốc bảo vệ thực vật hóa học.
Phân chuồng được ủ hoai mục, kết hợp với chế phẩm sinh học để tạo nguồn dinh dưỡng cho cây. Một số loại dịch chiết từ chuối, cá cũng được tận dụng làm nguồn dinh dưỡng tự nhiên.
Đáng chú ý, những quả bị hỏng sau thu hoạch thay vì bỏ đi được thu gom, ủ và đưa trở lại làm nguồn dinh dưỡng cho đất. Một phần phụ phẩm nhờ đó được tái sử dụng, giảm chất thải và giảm chi phí đầu vào.
Trong phòng trừ sâu bệnh, Hợp tác xã sử dụng các chế phẩm tự nhiên từ ớt, tỏi, rượu để xua đuổi côn trùng. Chỉ trong những trường hợp cần thiết, thuốc bảo vệ thực vật mới được sử dụng ở giai đoạn cây con theo đúng quy định và bảo đảm thời gian cách ly. Khi cây bước vào giai đoạn thu hoạch, các biện pháp sinh học được ưu tiên.
Với anh Nam, sản xuất an toàn trong một trang trại có hoạt động trải nghiệm còn gắn với trách nhiệm giáo dục.
“Du khách trải nghiệm đa phần là học sinh ở mọi lứa tuổi. Các em đến tham quan, trực tiếp học cách chăm sóc, thu hoạch nông sản an toàn, từ đó hình thành ý thức bảo vệ môi trường và sức khỏe. Việc sản xuất chuẩn chỉ, thực tâm không chỉ là cách giữ chân khách hàng mà còn là trách nhiệm đối với thế hệ mai sau”, anh Nam chia sẻ.
Để không gian trải nghiệm luôn có những điều mới mẻ, Hợp tác xã tiếp tục đưa thêm nhiều giống cây về trồng thử nghiệm. Mục tiêu là tạo nên một hệ sinh thái cây trồng đa dạng, vừa nâng giá trị sản xuất, vừa đáp ứng nhu cầu tham quan theo mùa.
Trong số những cây trồng mới, dâu tây là thử nghiệm khiến anh Nam nhớ nhất. Năm 2021, sau chuyến đi học hỏi mô hình tại Sơn La, Hợp tác xã mạnh dạn đưa giống dâu tây về trồng thử. Đây là một quyết định không đơn giản bởi dâu tây vốn là cây ưa lạnh, trong khi điều kiện thời tiết Thanh Hóa không giống những vùng chuyên canh loại cây này.
Thế nhưng, thay vì coi sự khác biệt về khí hậu là rào cản không thể vượt qua, Hợp tác xã tập trung điều chỉnh quy trình kỹ thuật, chăm sóc và kiểm soát môi trường trồng. Kết quả, vườn dâu rộng hơn 1 ha đã sinh trưởng, ra hoa và kết trái trên vùng đất trước đây vốn quen với cây lúa.
Những luống dâu tây vì thế không chỉ mang lại một sản phẩm mới mà còn cho thấy khả năng thích ứng của người nông dân khi biết kết hợp kinh nghiệm với khoa học kỹ thuật.
“Đưa giống mới vào sản xuất không hề dễ dàng. Nhưng khi khoa học kỹ thuật được ứng dụng đúng cách, nông dân dám nghĩ, dám làm thì trên chính mảnh đất quê hương vẫn có thể tạo ra những giá trị mới”, anh Nam khẳng định.




Trước thềm Hội nghị COP31 tại Thổ Nhĩ Kỳ, Ấn Độ gia tăng phản đối Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (Carbon Border Adjustment Mechanism- CBAM) của Liên minh châu Âu (EU), trong khi nhiều nền kinh tế khác cũng tìm cách phản đối hoặc đàm phán miễn trừ. Tranh cãi này đang đặt EU trước bài toán khó: vừa bảo vệ tham vọng khí hậu, vừa tránh nguy cơ châm ngòi một cuộc xung đột thương mại mới…
Đại biểu Quốc hội đề nghị bổ sung nguyên tắc: các dự án ven biển, lấn biển, xây dựng công trình trên biển phải xác định rõ lối tiếp cận biển công cộng, bãi biển công cộng và không gian sinh hoạt truyền thống của cộng đồng; không được biến quyền tiếp cận hợp pháp của người dân thành quyền phụ thuộc vào sự cho phép của chủ đầu tư...
Làm rõ quyền hưởng lợi của các chủ thể tham gia tạo ra kết quả giảm phát thải, hấp thụ khí nhà kính, bảo đảm thống nhất với pháp luật về lâm nghiệp; bảo đảm hài hòa lợi ích giữa các bên, tạo động lực cho người dân, cộng đồng tham gia bảo vệ rừng...
Chương trình dự án nghiên cứu giải trình tự hệ gene 1.000 giống lúa Việt Nam hướng tới xây dựng cơ sở dữ liệu di truyền quy mô lớn, làm nền tảng cho bảo tồn nguồn gene bản địa và chọn tạo giống mới có chất lượng cao, thích ứng với biến đổi khí hậu và giảm phát thải…
Từ các cuộc hội thảo, nghiên cứu chung và đề xuất dự án, hợp tác Việt Nam – Nhật Bản tại Nghi Sơn đang hướng tới một chuỗi công việc cụ thể: thu khí thải tại nhà máy, vận chuyển và lưu trữ dưới lòng đất.
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội 10 tháng đầu năm 2026 ghi nhận nhiều con số kỷ lục. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu lần đầu tiên vượt mốc 1.000 tỷ USD, vốn FDI đăng ký đạt mức cao nhất kể từ năm 2009 đến nay (54,85 tỷ USD), vốn FDI thực hiện cũng đạt mức cao nhất trong 5 năm qua (24,08 tỷ USD). Cùng với sự phục hồi mạnh mẽ của sản xuất công nghiệp, bán lẻ và du lịch, nền kinh tế Việt Nam đang chứng tỏ đà tăng trưởng vững chắc…
Lần đầu tiên kim ngạch xuất nhập khẩu vượt mốc 1.000 tỷ USD, vốn FDI đăng ký lập đỉnh cao nhất trong vòng 17 năm qua, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng. Tuy nhiên, diện tích gieo cấy lúa lại giảm tới hàng chục nghìn ha, bình quân vẫn còn tới 18,2 nghìn doanh nghiệp rút lui khỏi thi trường. Đó là những điểm nhấn trong tổng quan bức tranh kinh tế Việt Nam 10 tháng qua.