Trong một buổi chiều mùa đông Hà Nội, gió heo may se lạnh khẽ lùa qua những hàng cây bên cạnh Bảo tàng dân tộc học, tôi gặp Maysaa Bouavone Phanthabouasy - cô gái có nụ cười ấm áp và đôi mắt trong veo như luôn mang theo ánh nắng từ xứ sở Triệu Voi. Người ta biết đến Maysaa như một tiktoker, youtuber mới nổi trên mạng xã hội đang được yêu mến tại Việt Nam, với 1,3 triệu người theo dõi. Cô thường tìm đến các địa danh lịch sử, văn hóa của hai nước, lắng nghe câu chuyện, rồi kể lại bằng ngôn ngữ của người trẻ: mộc mạc, gần gũi, tinh tế mà chân thành.
Maysaa hãy giới thiệu đôi nét về mình, cơ duyên nào đã đưa bạn đến Việt Nam?
Tôi sinh năm 2001 tại Luang Prabang, cố đô thanh bình của Lào, trong một gia đình nông dân, nơi ngôi nhà nhỏ có bốn người (bố mẹ và hai người con). Từ những ngày còn học lớp 5, trong tôi đã nhen nhóm ước mơ: được đặt chân đến Việt Nam học tập. Ước mơ đã thành hiện thực vào năm lớp 12, khi tôi giành giải Nhì cấp tỉnh cuộc thi tìm hiểu về ASEAN và nhận suất học bổng du học Việt Nam.
Đến Quảng Ninh, tôi học ngành Tài chính doanh nghiệp tại Đại học Công nghiệp Quảng Ninh. Tại Đại học, tôi đạt vị trí Top 3 sinh viên có điểm cao nhất khóa và đạt sinh viên 5 tốt của trường. Sau khi tốt nghiệp cử nhân, tôi tiếp tục nhận được học bổng toàn phần chương trình Thạc sĩ ngành Quản trị kinh doanh tại Đại học Kinh tế Quốc dân ở Hà Nội. Hiện tôi đang học chương trình Thạc sĩ này. Đến nay, tôi đã học và ở Việt Nam được hơn 6 năm.
Các video trên TikTok, YouTube và Fecebook của Maysaa luôn thể hiện tình yêu dành cho Việt Nam. Đất nước và con người Việt Nam có điều gì đặc biệt, khiến Maysaa yêu mến và lựa chọn nơi đây để học tập?
Từ nhỏ, tôi đã nghe ông bà kể về tình cảm đặc biệt giữa Việt Nam và Lào, như hai người anh em luôn bên nhau những lúc khó khăn. Những câu chuyện ấy gieo vào tôi sự tò mò và dành cho Việt Nam một tình cảm sâu sắc. Việt Nam còn dành nhiều học bổng cho sinh viên Lào. Y tế ở đây cũng rất tốt, người dân Lào mỗi khi ốm thường sang Việt Nam điều trị, như một sự tin tưởng tự nhiên. Ngày đặt chân đến Việt Nam, cảm nhận đầu tiên của tôi là: Việt Nam rất đẹp, con người thân thiện, hiếu khách và luôn rộng lòng chào đón người nước ngoài. Điều khiến tôi xúc động nhất chính là tình cảm mà người Việt Nam dành cho người Lào, gần gũi như ruột thịt.
Trong môi trường học tập tại Việt Nam, tôi được tiếp cận phương pháp giảng dạy hiện đại. Tôi nhìn thấy các bạn trẻ Việt Nam luôn tận dụng mọi khoảng trống để học tập, làm việc và phát triển. Họ không ngừng nỗ lực và chính điều đó truyền cảm hứng để tôi học tập và phấn đấu.
Ý tưởng xây dựng kênh YouTube cá nhân đến với tôi vào năm thứ ba đại học, xuất phát từ mong muốn đơn thuần là lưu giữ những khoảnh khắc giản dị của quãng đời du học sinh. Những video đầu tiên được quay bằng điện thoại, rất mộc mạc, chỉ là những mẩu chuyện đời thường, nhưng bất ngờ nhận được sự yêu thương ngoài sức tưởng tượng từ mọi người. Chính tình cảm ấm áp ấy đã trở thành động lực để tôi tiếp tục lan tỏa sự tử tế và kể những câu chuyện đẹp về văn hóa Việt - Lào. Dòng chữ “Cô gái Lào yêu Việt Nam” luôn hiện diện trên các trang mạng xã hội của tôi chính là lời khẳng định chân thành nhất cho tình yêu ấy”.
Điều gì khiến Maysaa nói tiếng Việt tự nhiên đến mức sử dụng cả “tiếng lóng” của giới trẻ? Bạn đã học và sử dụng những từ ngữ đặc biệt đó như thế nào?
Tôi vẫn thường nói với các bạn cùng quê hương Lào rằng tiếng Việt khó hơn tiếng Anh rất nhiều. Những ngày đầu học ở Lào, cô giáo chỉ dạy những câu giao tiếp rất giản đơn: hỏi đường, mua đồ, chào hỏi,... những từ chuyên môn thì không có điều kiện tiếp xúc. Khi sang Việt Nam, tôi mới bắt đầu được học sâu hơn, bài bản hơn. Tuy nhiên tiếng “lóng”, thứ ngôn ngữ sinh động nhưng lại không có trong từ điển, không phải là những từ ngữ “chính thức” trong giao tiếp, mà do các bạn trẻ “tự chế” ra và sử dụng khu biệt giữa những người bạn thân thiết với nhau. Vì thế, tiếng Việt “lóng” không được giảng dạy trong lớp học tiếng Việt bên Lào, cũng không được dạy trong giảng đường ở Việt Nam. Tôi học tiếng “lóng” theo cách tự nhiên nhất: bước vào đời sống của người Việt Nam.
Tôi kết bạn với các bạn sinh viên Việt Nam, nghe các bạn trò chuyện, quan sát cách họ nói với nhau. Có những từ lần đầu nghe, chẳng hiểu gì cả, chỉ thấy mọi người cười rất vui. Tôi liền hỏi luôn: “Từ đó nghĩa là gì ạ?” và được các bạn giải thích tận tình. Cứ như thế, vốn từ của tôi lớn dần lên theo từng cuộc trò chuyện.
Nhiều lúc tôi học từ trên mạng xã hội. Tôi đọc bình luận trên Facebook, TikTok, thấy từ nào lạ thì lưu lại, tra nghĩa hoặc hỏi bạn bè. Có khi còn học được cả từ trong những lúc các bạn người Việt “trêu nhau” hay cãi vui. Ban đầu tôi bối rối, nhưng càng tìm hiểu tôi càng thích thú vì nhận ra tiếng Việt có cách chơi chữ rất tinh tế. Có lần, tôi phát âm sai một dấu khiến câu nói chuyển sang nghĩa hoàn toàn khác. Bạn bè cười ầm lên, khiến tôi bị “quê”, nhưng lại thấy vui, vì chính những lần sai ấy đã giúp tôi nhớ rất lâu.
Khó khăn nhất là tiếng Việt có nhiều thanh điệu, chỉ cần lên giọng hay xuống giọng một chút là nghĩa đã đổi khác, nhưng cũng nhờ vậy mà tiếng Việt trở nên có nhịp điệu, mềm mại và đầy cảm xúc. Với tôi, học tiếng Việt không chỉ là học một ngôn ngữ, mà là học cách cảm nhận, lắng nghe và hòa mình vào cuộc sống nơi đây. Mỗi từ tôi học được đều là một mảnh ghép nhỏ trong hành trình khám phá con người và tình cảm của đất nước Việt Nam.
Maysaa có thể chia sẻ về Tết cổ truyền của Lào và điều gì làm nên nét độc đáo, khác biệt nhất trong phong tục đón Tết ở quê hương bạn?
Tết cổ truyền của Lào - Bunpimay thường đến vào đầu mùa hè. Lào cũng có lịch âm riêng, nhưng khác với Việt Nam, ngày đầu tiên của năm âm lịch vào ngày 15 tháng Tư dương lịch hàng năm. Tết ở Lào diễn ra tương ứng với những ngày 13-17 tháng Tư dương lịch.
Tết Lào không có khoảnh khắc đếm ngược giao thừa, cũng không rộn ràng pháo hoa. Buổi sáng đầu năm, người dân đi chợ, rồi cùng nhau lên chùa làm lễ. Không có lì xì như ở Việt Nam, thay vào đó là những nghi thức rất nhẹ nhàng và đầy nhân hậu: buộc chỉ cổ tay cầu phúc, bôi phấn thơm lên mặt nhau như lời chúc may mắn. Nét đẹp nhất vẫn là té nước. Người Lào tin rằng nước mang lại sự thanh sạch, rửa trôi điều cũ, mở lối cho hạnh phúc. Nước dùng để té thường được ướp hoa thơm, đôi khi có cả hoa chăm pa, quốc hoa của Lào.
Những ngày Tết bên bờ Mekong ở Luang Prabang, người ta xây những tháp cát nhỏ như gửi gắm điều tốt đẹp sẽ nảy mầm từ những điều bình dị. Tôi và mọi người thường lên chùa thực hành nghi lễ tắm Phật, từng gáo nước được nhẹ nhàng rưới lên tượng Phật, rồi hứng những giọt nước chảy xuống, chấm lên trán mình như đón nhận điều lành.
Về ẩm thực ngày Tết, người Lào có món “lạp”, là món trộn tượng trưng cho sự sung túc, may mắn. Ngoài ra còn có xôi nếp, bánh cốm, bánh nếp… Tết của người Lào rất nhẹ nhàng: chỉ cần một ít nước, một sợi chỉ trắng, một nụ cười là đã đủ để bước vào năm mới với lòng thanh thản. Thế nhưng, thời gian luôn thay đổi mọi thứ, nếu Tết ngày trước, người Lào luôn mặc trang phục truyền thống, thì giờ đây, trang phục truyền thống được thay bằng quần áo thoải mái để tiện vui chơi. Dù vậy, ở Luang Prabang, Tết vẫn giữ vẻ nguyên sơ của mình: đi chùa, té nước, tắm Phật, và chọn “hoa hậu lễ hội”, bảy cô gái thanh tú sẽ được chọn để phục vụ nghi lễ trong lễ hội rước Nữ chúa Xuân (Nangsangkhane).
Maysaa đã từng đón Tết cổ truyền ở Việt Nam chưa và cảm nhận như thế nào?
Du học sinh như tôi thường chỉ có hai lần được trở về Lào: dịp hè và Tết Việt Nam. Nhưng năm dịch Covid-19 (năm 2021), tôi không thể về nước, đành ở lại Việt Nam ăn Tết trong trạng thái vừa bỡ ngỡ, vừa nhớ quê. Năm ấy, tôi được một người bạn Việt Nam mời về nhà ăn Tết cùng gia đình. Đêm Tất niên, mọi người quây quần xem chương trình Táo Quân - thứ mà ở Lào không có. Qua màn hình tivi, tôi nghe tiếng cười rộn rã của cả nhà, nhưng ngoài phố lại lặng lẽ đến lạ. Bạn bảo bình thường giao thừa sẽ có pháo hoa sáng rực cả bầu trời và phố rất đông vui, nhưng năm ấy vì dịch nên mọi thứ đều giản dị và yên tĩnh.
Sáng mùng Một Tết Nguyên đán, cả nhà dậy sớm nấu nướng, chuẩn bị đồ ăn để đi chúc Tết. Trẻ em háo hức chờ được lì xì. Nhìn cảnh người lớn lì xì cho trẻ em, tôi thấy rất lạ. Ở Lào, Tết không có tục lì xì, nếu thương mến, người lớn sẽ cho tiền tiêu Tết theo cách rất tự nhiên, như trao một niềm vui chứ không gọi tên thành nghi thức. Tết Việt Nam khác với Tết của Lào, ở giữa mùa rét chứ không phải ở đầu mùa hạ, cũng không có té nước, nhưng chính sự khác ấy khiến cái Tết năm đó trở nên đáng nhớ với tôi.
Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 5-2026 phát hành ngày 2/02/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-5-2026.html
Ngành du lịch thiên văn toàn cầu được dự báo sẽ tăng trưởng mạnh mẽ trong thập niên tới do quá trình đô thị hóa và nhu cầu ngày càng tăng của người tiêu dùng đối với những trải nghiệm ngắm bầu trời đêm đích thực.
Tự chủ công nghệ không nên được đo bằng số lượng sản phẩm “Make in Vietnam” được công bố, mà bằng giá trị những sản phẩm đó tạo ra và quan trọng hơn, Việt Nam có thêm bao nhiêu quyền lựa chọn khi môi trường kinh tế, công nghệ toàn cầu biến động… Tạp chí Kinh tế Việt Nam / VnEconomy đã có cuộc trao đổi với ông Hà Trung Kiên, Phó Chủ tịch Hội đồng quản trị Tập đoàn Công nghệ G-Group, về câu chuyện tự chủ công nghệ của Việt Nam trong kỷ nguyên AI và hội nhập quốc tế.
Ngày 10/12/2025, Quốc hội chính thức thông qua Luật Quy hoạch (sửa đổi), đánh dấu bước tiến quan trọng trong tư duy xây dựng và kiến tạo chính sách. Không chỉ tháo gỡ những vướng mắc pháp lý, luật mới được kỳ vọng giải quyết các “nút thắt” tồn tại nhiều năm trong phát triển thị trường bất động sản, từ xung đột quy hoạch, thiếu không gian phát triển nhà ở xã hội đến tình trạng “quy hoạch treo”.
Các cơ chế, chính sách về nhà ở của Đảng và Nhà nước hiện nay đều nhấn mạnh việc phải phát triển đa dạng, đồng bộ các phân khúc: nhà ở thương mại, nhà ở cho thuê, nhà ở chính sách và nhà ở công vụ. Qua đó, đảm bảo mọi người dân đều có thể tiếp cận chỗ ở phù hợp với khả năng chi trả một cách công bằng, minh bạch. Theo GS.TS. Hoàng Văn Cường, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam, khi những chính sách này đi vào cuộc sống, thị trường nhà ở sẽ phát triển thực chất hơn, cung – cầu cân đối và giá nhà sẽ bình ổn…
Ngày 2/9/1945 đã mở ra bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không chỉ khẳng định quyền độc lập, tự do và tự quyết về chính trị, mà còn trao cho dân tộc Việt Nam quyền lựa chọn, kiến tạo con đường phát triển kinh tế vì lợi ích của đất nước và nhân dân. Từ thời khắc ấy, khát vọng độc lập gắn liền với khát vọng xây dựng một quốc gia tự chủ, giàu mạnh, trong đó thành quả phát triển phải nâng cao đời sống và mở rộng cơ hội tiến bộ cho mọi người dân.
Rạng sáng 10.9 (giờ địa phương), chuyên cơ chở Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cùng phu nhân Ngô Phương Ly và Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam đã đến thủ đô Paris, bắt đầu thăm chính thức Pháp và dự Hội nghị thượng đỉnh Không gian vũ trụ tại Paris, theo lời mời của Tổng thống Pháp Emmanuel Macron.
Nhân Ngày Quốc tế Bảo vệ tầng ô-dôn năm 2026 và kỷ niệm 10 năm Bản sửa đổi, bổ sung Kigali được thông qua, Cục Biến đổi khí hậu, Bộ Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam và Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy tổ chức Chương trình tọa đàm “Hành động toàn cầu vì một hành tinh mát lành hơn”. Tọa đàm được phát trực tuyến trên trên VnEconomy.vn và FanPage VnEconomy vào 9h ngày 14/9/2026...