VnEconomy
VnEconomy
VnEconomy

“Trong thời gian qua, công tác dự trữ quốc gia luôn nhận được sự quan tâm từ Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ, thể hiện rõ nét qua việc phê duyệt Chiến lược phát triển dự trữ quốc gia đến năm 2030 tại Quyết định 305/QĐ-TTg ban hành ngày 12/4/2024. Chiến lược này đã xác định lộ trình phát triển dự trữ đối với nhiều mặt hàng thiết yếu, trong đó nhấn mạnh đến mặt hàng xăng dầu và dầu thô.

Trước đó, ngày 18/7/2023, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 861/QĐ-TTg phê duyệt Quy hoạch hạ tầng dự trữ, cung ứng xăng dầu, khí đốt quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050. Đây là một trong 38 quy hoạch ngành quốc gia trọng điểm, tạo cơ sở pháp lý để Bộ Công Thương phối hợp cùng các bộ, ngành và địa phương triển khai xác định địa điểm, quy mô cũng như lộ trình đầu tư hệ thống kho dự trữ đồng bộ.

Về tình hình thực hiện, trong khi hệ thống kho dự trữ sản phẩm xăng dầu đã được các đơn vị đầu mối đầu tư xây dựng khá mạnh mẽ, thì hạ tầng dự trữ dầu thô hiện vẫn chủ yếu gắn liền với các nhà máy lọc dầu như Dung Quất và Nghi Sơn. Trước thực tế đó, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo và giao Tập đoàn Công nghiệp – Năng lượng quốc gia Việt Nam (PetroVietnam) nghiên cứu đề án đầu tư xây dựng kho dự trữ dầu thô tại Nghi Sơn. Yêu cầu đặt ra là phải xác định cụ thể quy mô, phân kỳ đầu tư, nguồn vốn và lộ trình triển khai; đồng thời đề xuất các cơ chế, chính sách ưu đãi nhằm tháo gỡ những vướng mắc về vận hành và quản lý dầu thô dự trữ vốn đang được dư luận quan tâm.

Song song với dự án tại Nghi Sơn, Thủ tướng cũng giao Bộ Công Thương tiếp tục phối hợp với các bên liên quan để nghiên cứu, triển khai hạ tầng dự trữ tại các địa điểm chiến lược khác như Dung Quất và Long Sơn theo đúng quy hoạch ngành quốc gia. Việc thực hiện đồng bộ giữa Chiến lược dự trữ quốc gia và Quy hoạch hạ tầng sẽ là yếu tố then chốt giúp sớm hoàn thiện hệ thống dự trữ năng lượng, đáp ứng các mục tiêu an ninh năng lượng đã được phê duyệt”.

VnEconomy
VnEconomy

“Để giải quyết căn cơ vấn đề xăng dầu và năng lượng hiện nay, Việt Nam cần một tư duy tổng thể, phân định rõ ràng giữa các kịch bản ngắn hạn, trung hạn và dài hạn thay vì cách tiếp cận mang tính tình thế.

Hiện nay, các giải pháp ngắn hạn chủ yếu tập trung vào các công cụ can thiệp trực tiếp của Nhà nước như ngoại giao kinh tế hay giảm thuế, phí xăng dầu để hỗ trợ thị trường. Tuy nhiên, cần xác định rõ thời hạn của các biện pháp này và cần có kế hoạch cụ thể cho giai đoạn trung hạn thay vì chỉ dừng lại ở các bước ứng phó tức thời. Một hệ thống chính sách năng lượng bền vững phải dựa trên ba trụ cột chính.

Thứ nhất, đảm bảo và đa dạng hóa nguồn cung. Đây là yếu tố then chốt, đòi hỏi chúng ta phải vừa đảm bảo nguồn cung truyền thống, vừa nỗ lực đa dạng hóa, cơ cấu lại các loại hình năng lượng mới.

Thứ hai, chuyển đổi cơ cấu và tiết kiệm năng lượng. Trong cả trung và dài hạn, cần thúc đẩy việc sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả từ phía người dân đến doanh nghiệp. Song, thách thức thực tế hiện nay là việc chuyển đổi sang xe điện không hề đơn giản, vì sẽ tạo áp lực rất lớn lên hệ thống truyền tải và điều độ điện lưới khi nhu cầu sạc tăng vọt. Do đó, cần chính sách khuyến khích điện mặt trời áp mái cho hộ gia đình để giải quyết nhu cầu tại chỗ trong ngắn hạn.

Thứ ba, cải cách cơ chế giá và điều tiết nhu cầu. Chúng ta cần thay đổi cấu trúc giá điện, đặc biệt là xóa bỏ việc bù chéo giữa điện công nghiệp và điện sinh hoạt. Cần áp dụng cơ chế giá theo khung giờ (cao điểm và thấp điểm) để điều chỉnh hành vi tiêu dùng. Hiện nay, việc thiếu hệ thống đồng hồ đo điện theo giờ khiến người dân không có động lực thay đổi giờ giấc sử dụng thiết bị (như máy giặt, máy sấy), dẫn đến khó khăn trong việc điều tiết phụ tải hệ thống.

Đặc biệt, vấn đề cốt yếu nhất mà Việt Nam đang thiếu là tính nhất quán trong chính sách. Trong quan hệ đối tác, việc thay đổi đối tác cung ứng xăng dầu hay đột ngột dừng các dự án điện lớn dễ tạo ra tâm lý e ngại cho các đối tác quốc tế về sự ổn định của thị trường Việt Nam.

Trong điều hành ngành, chính sách đối với điện gió, điện mặt trời thời gian qua có hiện tượng lúc mở ra quá rộng với giá cao, lúc lại thắt chặt quá mức. Điều này cho thấy sự thiếu hụt các tính toán chi tiết và kịch bản ứng phó bài bản.

Nếu không sớm xây dựng được các kịch bản chi tiết và duy trì tính nhất quán trong điều hành, chúng ta sẽ mãi ở trong tình thế “ăn đong”, bị động trước mọi biến động của thị trường năng lượng thế giới”.

VnEconomy
VnEconomy

“Hiện nay, một trong những vấn đề quan trọng là chiến lược dự trữ năng lượng quốc gia. Các quốc gia thành viên IEA (Cơ quan Năng lượng quốc tế) đều duy trì mức dự trữ ít nhất 90 ngày để bình ổn thị trường khi khủng hoảng. Tại Việt Nam, nguy cơ không chỉ nằm ở giá cả mà là sự thiếu hụt nhiên liệu. Năng lực sản xuất dầu diesel trong nước hiện chỉ đáp ứng được hơn 10%, phần lớn vẫn phụ thuộc hoàn toàn vào nhập khẩu. Nếu hệ thống logistics (gồm: đường sắt, đường thủy và hàng không) ngưng trệ do thiếu dầu diesel, nền kinh tế sẽ tê liệt.

Câu chuyện về chuyển đổi Net Zero là một quá trình rất dài, có thể đến năm 2050 hoặc kéo dài hơn nữa, tùy theo lộ trình của Chính phủ. Tuy nhiên, trong ngắn hạn, đây là một áp lực cực kỳ lớn khi đặt vào bài toán an ninh năng lượng. Làm sao để đảm bảo cung ứng, làm sao để chúng ta vẫn tồn tại được trước những cú sốc của thị trường thế giới?

Ngoài ra, các nhà hoạch định chính sách còn đối mặt với sức ép thuế quan từ các đối tác lớn như Hoa Kỳ. Việc nhập khẩu LNG đôi khi không chỉ là bài toán năng lượng mà còn là công cụ để cân bằng thương mại, tránh bị áp thuế cao gây ảnh hưởng đến thị trường xuất khẩu và lao động trong nước.

Từ thực tế này, chúng ta cần rà soát và đánh giá lại tất cả các chiến lược phát triển năng lượng, cần tránh phụ thuộc quá nhiều vào nguồn nhập khẩu như LNG vì rủi ro rất cao.

Quyết sách về Net Zero là đúng, nhưng có lẽ hơi nhanh so với năng lực hiện tại của Việt Nam. Do đó, chúng ta cần cân nhắc điều chỉnh lộ trình thời gian sao cho phù hợp, đảm bảo vừa chuyển dịch năng lượng theo hướng xanh, vừa giữ vững an ninh năng lượng quốc gia”.

VnEconomy
VnEconomy

“Cuộc xung đột hiện nay không chỉ là một vấn đề địa chính trị mà còn trực tiếp tạo ra áp lực tài chính nặng nề lên mọi thành phần kinh tế, từ doanh nghiệp đến người dân.

Cụ thể, cuộc xung đột đẩy nhanh tốc độ tăng lãi suất của chúng ta lên rất mạnh. Theo tính toán, với tổng dư nợ của toàn nền kinh tế vào khoảng 18 triệu tỷ đồng, chỉ cần lãi suất tăng thêm 1% mỗi năm, thì mỗi tháng các đối tượng vay vốn (đặc biệt là doanh nghiệp và người đầu tư bất động sản) phải chi trả thêm từ 30 đến 35 nghìn tỷ đồng. Nếu tình trạng lãi suất cao duy trì suốt cả năm 2026, tổng chi phí lãi vay phát sinh có thể chạm ngưỡng 300 đến 400 nghìn tỷ đồng vào cuối năm. Đây được coi là một con số “khổng lồ”, bào mòn lợi nhuận và nguồn lực tái đầu tư của doanh nghiệp.

Tiếp theo là chi phí đối với tỷ giá hối đoái. Chỉ trong 3 tháng đầu năm 2026, tỷ giá USD đã tăng 2,1%, trong đó có 1,4% là do tác động kể từ khi xung đột Trung Đông nổ ra. Với kim ngạch xuất khẩu 122 tỷ USD trong quý 1/2026, tỷ giá tăng giúp các doanh nghiệp xuất khẩu hưởng lợi khoảng 2,5 tỷ USD, nhưng ở chiều ngược lại, các nhà nhập khẩu phải chi thêm khoảng 2,6 tỷ USD.

Nền kinh tế Việt Nam nhập khẩu rất nhiều nguyên vật liệu, máy móc để phục vụ chính việc chế biến và xuất khẩu. Do đó, cái lợi từ tỷ giá không thể bù đắp được chi phí đầu vào tăng cao, biến đây trở thành một gánh nặng khác đối với nền kinh tế.

Một chi phí nữa là tiêu thụ xăng dầu của Việt Nam. Nếu nhìn toàn bộ nền kinh tế, con số này cũng rất đáng kể. Năm 2025, chúng ta nhập khoảng 26 đến 28 triệu m3/tấn xăng dầu. Tính riêng từng tháng, phải nhập khoảng 2,2 triệu m3/tấn. Nếu lấy chi phí bình quân của Petrolimex thì con số 2,2 triệu này trước khi cuộc xung đột xảy ra, tổng chi phí để nhập số hàng này là khoảng 50 nghìn tỷ đồng (xấp xỉ 2 tỷ USD).

Như vậy, chỉ cần giá xăng dầu tăng thêm 10%, nền kinh tế phải gánh thêm 5.000 tỷ đồng mỗi tháng. Tương tự, với mức tăng 20% và 30%, chi phí phát sinh sẽ tương ứng ở mức 10.000 tỷ đồng và 15.000 tỷ đồng. Tính chung cả năm, với mức giá xăng dầu này, nền kinh tế chúng ta sẽ tăng chi phí khoảng 150.000 tỷ đồng. Tổng hợp các con số trên cho thấy tổng chi phí phát sinh đối với nền kinh tế Việt Nam do tác động của cuộc xung đột này có thể khoảng 40 đến 50 tỷ USD. Con số này tương đương với khoảng 8 - 10% GDP của chúng ta trong năm nay.

Những tác động này sẽ trực tiếp ảnh hưởng đến mục tiêu tăng trưởng, động cơ tiêu dùng và ý định đầu tư. Vì vậy tôi khuyến nghị cần sớm có các biện pháp đảm bảo an ninh năng lượng và hỗ trợ doanh nghiệp vượt qua “cơn bão” chi phí này, giảm thiểu rủi ro cho nền kinh tế”.

VnEconomy

Nội dung đầy đủ các bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 16-2026 phát hành ngày 20/04/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây

Link:  https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-16-2026.html

VnEconomy
Asko AI Platform

Askonomy AI

...

icon

Thuế đối ứng của Mỹ có ảnh hướng thế nào đến chứng khoán?

Chính sách thuế quan mới của Mỹ, đặc biệt với mức thuế đối ứng 20% áp dụng từ ngày 7/8/2025 (giảm từ 46% sau đàm phán), có tác động đáng kể đến kinh tế Việt Nam do sự phụ thuộc lớn vào xuất khẩu sang Mỹ (chiếm ~30% kim ngạch xuất khẩu). Dưới đây là phân tích ngắn gọn về các ảnh hưởng chính:

VnEconomy