Sau “van giảm áp” thuế xăng dầu, Việt Nam cần chính sách định hình chiến lược năng lượng dài hạn

Anh Nhi

12/04/2026, 16:54

Trong bối cảnh thị trường năng lượng toàn cầu đang chịu những cú sốc địa chính trị phức tạp, Việt Nam đã có những biện pháp điều chỉnh mạnh mẽ chưa từng có vào cấu trúc giá xăng dầu nhằm ổn định thị trường. Để hiểu rõ hơn về tác động của chính sách này cũng như tầm nhìn dài hạn cho an ninh năng lượng quốc gia, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy đã có cuộc trao đổi với Viện trưởng Viện Quản trị Chính sách và Chiến lược Phát triển Lê Nguyễn Thiên Nga xoay quanh vấn đề này…

VnEconomy

Thưa bà, bà đánh giá như thế nào về các quyết sách giảm thuế liên tiếp của Chính phủ gần đây đối với mặt hàng xăng, dầu?

Quyết định giảm sâu thuế xăng dầu, điều chỉnh linh hoạt VAT và thuế tiêu thụ đặc biệt, đồng thời tạm ứng 8.000 tỷ đồng từ ngân sách cho Quỹ bình ổn giá là một phản ứng chính sách quyết liệt và kịp thời trước cú sốc địa chính trị năng lượng toàn cầu. Đây là bước đi đột phá, phản ánh mức độ chủ động và quyết đoán cao của Chính phủ. Lần đầu tiên, các sắc thuế cấu thành giá xăng dầu được cắt giảm đồng loạt trong một khung thời gian đặc biệt (từ 26/3 đến 15/4/2026).

Theo phân tích của Viện Quản trị Chính sách và Chiến lược Phát triển, các biện pháp này đã giảm đáng kể mức độ truyền dẫn của cú sốc giá quốc tế vào nền kinh tế trong nước. Theo đó, giá xăng dầu trong nước giảm khoảng 5–10% so với kịch bản không can thiệp; áp lực lạm phát trong quý 1/2026 đã giảm khoảng 0,2–0,3 điểm phần trăm.

Tuy nhiên, tôi cần nhấn mạnh rằng giảm thuế chỉ là công cụ ngắn hạn. Theo kinh nghiệm từ OECD và IMF, biện pháp hỗ trợ giá chỉ nên áp dụng tạm thời. Nếu kéo dài quá lâu, nó sẽ tạo áp lực lớn lên ngân sách, làm sai lệch tín hiệu thị trường (giảm động lực tiết kiệm năng lượng), và trì hoãn các giải pháp cấu trúc dài hạn. Ngay lúc này, chúng ta phải xây dựng đồng bộ các giải pháp nằm đảm bảo Chiến lược năng lượng Quốc gia và nâng cao khả năng chống chịu của nền kinh tế trước biến động năng lượng.

Với tư cách là một “van giảm áp”, chính sách này sẽ tác động ra sao đến tâm lý thị trường, thưa bà?

Một tác động rất quan trọng nhưng thường bị đánh giá thấp của chính sách giảm thuế chính là việc ổn định kỳ vọng thị trường. Nếu Nhà nước không can thiệp, thị trường có thể rơi vào tâm lý kỳ vọng giá tăng liên tục, dẫn đến găm hàng, đầu cơ và gián đoạn nguồn cung cục bộ.

Bà Lê Nguyễn Thiên Nga tham dự Diễn đàn Đô thị quốc gia tại Azerbaijan vào tháng 10/2025.
Bà Lê Nguyễn Thiên Nga tham dự Diễn đàn Đô thị quốc gia tại Azerbaijan vào tháng 10/2025.

Việc giảm thuế phát đi tín hiệu mạnh mẽ rằng Nhà nước sẵn sàng chia sẻ gánh nặng chi phí. Lợi ích được phân bổ rõ nét. Cụ thể, doanh nghiệp đầu mối, phân phối: giảm áp lực vốn lưu động, hạn chế rủi ro thua lỗ khi giá nhập khẩu tăng cao; doanh nghiệp vận tải, logistics: chi phí nhiên liệu đầu vào giảm, qua đó giảm áp lực tăng giá cước vận tải; người dân: giảm trực tiếp chi phí đi lại và hạn chế hiệu ứng tăng giá dây chuyền lên các mặt hàng thiết yếu.

Tuy nhiên, lợi ích này có thể không phân bổ đồng đều và một phần có thể bị giữ lại ở chuỗi trung gian. Đó là lý do chính sách thuế hiện nay đang được thực hiện song song với việc tăng cường giám sát thị trường và điều tiết cạnh tranh.

Để tạo ra tác động thực chất theo Kết luận 14-KL/TW về đảm bảo nguồn cung và giá nhiên liệu, chỉ dựa vào Nhà nước là chưa đủ. Theo bà, người dân và doanh nghiệp cần thay đổi hành vi tiêu dùng và quản trị ra sao?

Đúng vậy, nếu chỉ dựa vào chính sách vĩ mô mà thiếu sự chuyển biến từ cơ sở, hiệu quả sẽ rất hạn chế. Báo cáo của chúng tôi chỉ ra rằng, cường độ tiêu thụ năng lượng của Việt Nam hiện vẫn cao hơn 1,3–1,5 lần so với các nước OECD. Điều này cho thấy dư địa để tiết kiệm là rất lớn.

Về phía người dân, cần chuyển từ việc tiêu dùng theo thói quen sang tiêu dùng có ý thức. Điều này bao gồm việc giảm sử dụng phương tiện tiêu hao nhiên liệu cao, tăng sử dụng giao thông công cộng, ưu tiên thiết bị tiết kiệm năng lượng và từng bước chuyển sang phương tiện điện hoặc hybrid.

Về phía hệ thống, có 3 trụ cột quản trị năng lượng, gồm: (i) tối ưu hóa tài nguyên hiện hữu bằng công nghệ, nâng hiệu suất thu hồi và tích lũy năng lượng; (ii) chuyển đổi số toàn chuỗi năng lượng, quản trị dựa trên dữ liệu và dự báo; (iii) tích hợp liên ngành năng lượng, vận hành dầu, khí, điện, năng lượng xanh như hệ thống thống nhất để tối ưu chi phí và giảm biến động.

Chúng ta cần nhớ rằng, mỗi 1% tiết kiệm năng lượng toàn xã hội có thể giúp giảm thêm 0,1–0,15 điểm phần trăm áp lực CPI. Thay đổi hành vi không chỉ bảo vệ môi trường mà còn là một công cụ kinh tế vĩ mô thực sự.

Nhìn rộng ra bình diện quốc tế, phản ứng của Chính phủ Việt Nam đang nằm ở đâu trong bức tranh chiến lược năng lượng toàn cầu, thưa bà?

Chúng ta không thể đánh giá chính sách của Việt Nam nếu chỉ nhìn từ góc độ kinh tế trong nước. Giá dầu hiện nay không chỉ là câu chuyện cung - cầu, mà bị chi phối mạnh mẽ bởi cạnh tranh quyền lực giữa OPEC, Hoa Kỳ và các điểm nóng Trung Đông.

Động thái của Việt Nam hoàn toàn phù hợp với xu hướng sử dụng “van giảm áp” tài khóa toàn cầu. Theo dữ liệu từ IEA và IMF, các quốc gia đang phản ứng rất đa dạng tùy thuộc vào dư địa của họ. Như ở Thái Lan, Na Uy, Đức, Hàn Quốc, các nước giảm thuế xăng dầu, năng lượng kết hợp hỗ trợ trực tiếp hóa đơn điện cho hộ gia đình; Italy, Tây Ban Nha tung các gói tài khóa lớn nhằm trợ giá nhiên liệu và hỗ trợ doanh nghiệp vận tải; Hoa Kỳ giải phóng kho dự trữ dầu chiến lược (SPR) để tăng nguồn cung và cân nhắc các biện pháp giảm thuế tại cấp bang; Pháp lại tỏ ra thận trọng hơn, cảnh báo việc giảm thuế mà không kiểm soát nguồn cung có thể kích thích nhu cầu, gây áp lực ngược lên lạm phát.

Từ xu hướng này, Viện Quản trị Chính sách đưa ra khuyến nghị về Khung kiến trúc Chiến lược tương lai, nhằm chuẩn bị cho giai đoạn ngay khi kết thúc giảm thuế, bao gồm: nâng cao tự chủ nguồn cung; tăng cường dự trữ chiến lược; và đầu tư vào lọc hóa dầu và công nghệ năng lượng.

Bà có nhắc đến việc tăng hiệu quả sử dụng năng lượng trong Khung kiến trúc Chiến lược tương lai. Vậy cụ thể đối với những ngành công nghiệp “khát” năng lượng như xi măng hay thép, sức ép phải chuyển đổi công nghệ hiện nay lớn đến mức nào, và bài toán này liên kết ra sao với năng lực tự chủ của toàn chuỗi năng lượng quốc gia?

Các ngành xi măng, thép, hóa chất chiếm tới 50–60% tổng tiêu thụ năng lượng công nghiệp. Khi giá năng lượng neo cao, việc tối ưu hóa không còn là lựa chọn mang tính cải thiện mà là điều kiện tiên quyết để tồn tại và phát triển.

Quyết định giảm sâu thuế xăng dầu, điều chỉnh linh hoạt VAT và thuế tiêu thụ đặc biệt, đồng thời tạm ứng 8.000 tỷ đồng từ ngân sách cho Quỹ bình ổn giá là một phản ứng chính sách quyết liệt và kịp thời trước cú sốc địa chính trị năng lượng toàn cầu. .
Bà Lê Nguyễn Thiên Nga, Viện trưởng Viện Quản trị Chính sách và Chiến lược Phát triển 

Áp lực giá cả hiện nay chính là một cơ chế sàng lọc tự nhiên, ép nền kinh tế phải tái cấu trúc, giảm phát thải và chuyển đổi xanh. Đầu tư công nghệ mới có thể giúp doanh nghiệp tiết giảm 10–20% chi phí năng lượng.

Tuy nhiên, câu chuyện của ngành xi măng hay thép phải đặt trong tổng thể chuỗi năng lượng quốc gia. Việt Nam đã hình thành cấu trúc thượng - hạ nguồn tương đối đầy đủ: các mỏ dầu chủ lực như Bạch Hổ, Đại Hùng, Sư Tử Đen, Sư Tử Trắng, Rồng, Tê Giác Trắng đã đóng vai trò thượng nguồn, dù phần lớn đã bước qua giai đoạn đỉnh khai thác; tại hạ nguồn, các nhà máy lọc dầu chiến lược như Dung Quất Refinery (6,5–8,5 triệu tấn/năm) và Nghi Sơn Refinery (10 triệu tấn/năm) đáp ứng khoảng 70–75% nhu cầu nhiên liệu nội địa, nhưng vẫn còn phụ thuộc vào nguồn dầu thô nhập khẩu. Đây là cơ sở để nhấn mạnh rằng ngành xi măng cùng các ngành tiêu thụ năng lượng lớn khác đang hoạt động trong một hệ thống năng lượng quốc gia cần được nâng tầm về tự chủ và đổi mới.

Vấn đề cốt lõi không còn nằm ở việc “có chuyển đổi hay không”, mà ở chỗ mức độ làm chủ công nghệ và tốc độ triển khai chuyển đổi đến đâu.

Thực tiễn cho thấy Việt Nam đã có những thành tựu quan trọng phát triển an ninh năng lượng.

Tại thượng nguồn, mỏ Đại Hùng là một trường hợp tiêu biểu: Việt Nam đã tiếp nhận, vận hành, cải tiến và đưa mỏ hồi sinh, đạt doanh thu lũy kế trên 4 tỷ USD. Các hạng mục công nghệ then chốt như giàn xử lý trung tâm và hệ thống neo – xuất dầu ngoài khơi được xác lập kỷ lục quốc gia, phản ánh năng lực từng bước làm chủ các công nghệ khai thác biển sâu phức tạp xa bờ.

Ở hạ nguồn, bước tiến tại Dung Quất mang ý nghĩa chiến lược đặc biệt và tự hào. Việc Công ty cổ phần Lọc hóa dầu Bình Sơn làm chủ công nghệ sản xuất nhiên liệu đặc chủng không chỉ là thành tựu kỹ thuật đơn thuần, mà còn thể hiện năng lực tự chủ toàn diện từ phát hiện vấn đề, nghiên cứu, sản xuất đến thương mại hóa các sản phẩm năng lượng có hàm lượng công nghệ cao. Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc giảm phụ thuộc vào nguồn cung bên ngoài, đồng thời tăng cường năng lực đảm bảo an ninh năng lượng và quốc phòng trong những bối cảnh phức tạp.

Những mô hình này cho thấy Việt Nam đã bước qua giai đoạn tiếp nhận công nghệ, đã có những công trình có tác động sâu rộng và lâu dài, làm chủ và sáng tạo công nghệ. Ở tầm vĩ mô, công trình phục vụ trực tiếp sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội, đồng thời thúc đẩy tiến bộ khoa học – công nghệ của đất nước. Đây không chỉ là một thành tựu kỹ thuật, mà còn là một cấu phần quan trọng trong quá trình nâng cao năng lực nội sinh của nền kinh tế.

Đặc biệt, trong bối cảnh thế giới đối mặt với những biến động địa chính trị phức tạp, nguy cơ đứt gãy chuỗi cung ứng và các hình thức cấm vận kinh tế ngày càng gia tăng, cần có các chiến lược phát triển nghiên cứu và công bố các công trình khoa học mang ý nghĩa chiến lược Quốc gia để mở rộng quy mô và nâng cấp thành năng lực cạnh tranh mang tính hệ thống.

Các cơ quan, doanh nghiệp chủ động triển khai các Nghị quyết trong đó đặt khoa học – công nghệ năng lượng vào vị trí trung tâm của chiến lược phát triển quốc gia; thúc đẩy đổi mới công nghệ trong doanh nghiệp như một yêu cầu tất yếu, gắn trực tiếp với năng lực cạnh tranh; xây dựng và định vị thương hiệu quốc gia trong lĩnh vực năng lượng, qua đó nâng cao vai trò và tiếng nói của doanh nghiệp Việt trên thị trường quốc tế.

Đọc thêm

Dòng sự kiện

Đảng Cộng sản Việt Nam - Đại hội XIV

Đảng Cộng sản Việt Nam - Đại hội XIV

Với phương châm Đoàn kết - Dân chủ - Kỷ cương - Đột phá - Phát triển, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng xác định tư duy, tầm nhìn, những quyết sách chiến lược để chúng ta vững bước tiến mạnh trong kỷ nguyên mới, thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030 khi Đảng ta tròn 100 năm thành lập (1930 - 2030); hiện thực hoá tầm nhìn phát triển đến năm 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1945 - 2045).

Bài viết mới nhất

Bài viết mới nhất

Giá vàng trong nước và thế giới

Giá vàng trong nước và thế giới

VnEconomy cập nhật giá vàng trong nước & thế giới hôm nay: SJC, 9999, giá vàng USD/oz, biến động giá vàng tăng, giảm - phân tích, dự báo & dữ liệu lịch sử.

Bài viết mới nhất

VnEconomy Interactive

VnEconomy Interactive

Interactive là một sản phẩm báo chí mới của VnEconomy vừa được ra mắt bạn đọc từ đầu tháng 3/2023 đã gây ấn tượng mạnh với độc giả bởi sự mới lạ, độc đáo. Đây cũng là sản phẩm độc quyền chỉ có trên VnEconomy.

Bài viết mới nhất

Trợ lý thông tin kinh tế Askonomy - Asko Platform

Trợ lý thông tin kinh tế Askonomy - Asko Platform

Trong kỷ nguyên trí tuệ nhân tạo, đặc biệt là generative AI, phát triển mạnh mẽ, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy đã tiên phong ứng dụng công nghê để mang đến trải nghiệm thông tin đột phá với chatbot AI Askonomy...

Bài viết mới nhất

Đón đọc Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 14-2026

Đón đọc Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 14-2026

[Interactive]: Toàn cảnh kinh tế Việt Nam quý 1/2026

[Interactive]: Toàn cảnh kinh tế Việt Nam quý 1/2026

Diễn biến của 6 thị trường chứng khoán lớn trong 1 tháng chiến sự Iran

Diễn biến của 6 thị trường chứng khoán lớn trong 1 tháng chiến sự Iran

Asko AI Platform

Askonomy AI

...

icon

Thuế đối ứng của Mỹ có ảnh hướng thế nào đến chứng khoán?

Chính sách thuế quan mới của Mỹ, đặc biệt với mức thuế đối ứng 20% áp dụng từ ngày 7/8/2025 (giảm từ 46% sau đàm phán), có tác động đáng kể đến kinh tế Việt Nam do sự phụ thuộc lớn vào xuất khẩu sang Mỹ (chiếm ~30% kim ngạch xuất khẩu). Dưới đây là phân tích ngắn gọn về các ảnh hưởng chính:

VnEconomy