Trong tiến trình thực hiện mục tiêu giai đoạn 2026-2030, doanh nghiệp nhà nước giữ vị trí đặc biệt quan trọng. Nghị quyết số 79-NQ/TW, ngày 6/1/2026, của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước yêu cầu lực lượng này tiên phong kiến tạo phát triển, dẫn dắt, mở đường. Tuy nhiên, nguồn lực lớn chưa tự động tạo ra năng suất, sức cạnh tranh và vai trò dẫn dắt. Vì vậy, vấn đề cốt lõi là: nguồn lực công đầu tư tại doanh nghiệp nhà nước đã được chuyển hóa thành năng lực phát triển quốc gia với mức độ nào, bằng cơ chế nào và cần được đánh giá theo chuẩn mực nào.
Đến cuối năm 2025, cả nước có 695 doanh nghiệp nhà nước; tổng tài sản khoảng 4,5 triệu tỷ đồng, doanh thu gần 2,9 triệu tỷ đồng và đóng góp ngân sách khoảng 390 nghìn tỷ đồng, theo Cục Phát triển doanh nghiệp nhà nước. Những con số ấy khẳng định vị trí vật chất quan trọng của khu vực doanh nghiệp nhà nước, đồng thời đặt ra yêu cầu tương xứng về chất lượng sử dụng nguồn lực.
Quy mô là điều kiện cần, chưa phải kết quả cuối cùng. Vốn, tài sản, đất đai, kết cấu hạ tầng và các quyền tài sản Nhà nước giao mới là đầu vào. Giá trị thực chỉ được xác lập khi chúng chuyển thành năng suất, công nghệ, năng lực dự phòng, khả năng kết nối và cơ hội phát triển. Nguồn lực luân chuyển chậm, phân bổ dàn trải hoặc nằm trong hoạt động giá trị gia tăng thấp có thể được bảo toàn về danh nghĩa mà vẫn suy giảm giá trị phát triển.
Cần phân biệt năng lực doanh nghiệp với năng lực phát triển quốc gia. Năng lực doanh nghiệp là khả năng tổ chức sản xuất, quản trị vốn, làm chủ công nghệ, cạnh tranh và tạo lợi nhuận; năng lực phát triển quốc gia là khả năng bảo đảm các cân đối, hạ tầng, công nghệ trọng yếu, chống chịu trước cú sốc và huy động nhiều chủ thể cùng tạo giá trị. Doanh nghiệp yếu kém khó tạo năng lực quốc gia; nhưng có lãi cũng chưa thực sự hoàn thành vai trò nòng cốt nếu kết quả chưa tạo thêm công nghệ, hạ tầng, thị trường hoặc sức lan tỏa.
Từ đây có thể xác lập khái niệm hiệu suất chuyển hóa nguồn lực công: mức độ vốn, tài sản và các nguồn lực Nhà nước giao được chuyển thành ba lớp kết quả: sức cạnh tranh của doanh nghiệp; năng lực nền tảng của đất nước; tác động lan tỏa giúp các chủ thể khác cùng phát triển. “Hiệu suất” không phải một tỷ số tài chính đơn nhất, mà là quan hệ giữa nguồn lực đầu vào với chiều sâu, phạm vi và thời điểm xuất hiện của kết quả phát triển.
Bảo toàn vốn phải gắn với phát triển vốn, nâng năng suất và duy trì khả năng tạo giá trị trong tương lai; vốn giữ nguyên trên sổ sách nhưng mất sức cạnh tranh, chậm đổi mới hoặc bỏ lỡ cơ hội chiến lược thì giá trị thực đã hao mòn. Chuỗi chuyển hóa vận động từ nguồn lực công đến năng lực doanh nghiệp; từ năng lực doanh nghiệp đến hạ tầng, công nghệ; từ những kết quả ấy đến sự trưởng thành của hệ sinh thái và năng lực quốc gia. Logic này không làm giảm yêu cầu lợi nhuận và kỷ luật thị trường, mà đặt ra chuẩn mực cao hơn: tạo giá trị vượt khỏi phạm vi doanh nghiệp.
Khi nhìn từ logic năng lực phát triển, câu hỏi trung tâm không còn là Nhà nước sở hữu bao nhiêu doanh nghiệp hoặc hiện diện trong bao nhiêu ngành, lĩnh vực, mà là: nếu không có vốn nhà nước, kết quả đang được xem xét có xuất hiện với cùng quy mô, tốc độ, mức độ an toàn và sức lan tỏa hay không?
Câu hỏi phản chứng ấy buộc sự hiện diện của Nhà nước phải được chứng minh bằng phần giá trị tăng thêm so với kết quả thị trường có thể tự tạo ra. Có thể gọi đó là giá trị gia tăng của sự hiện diện nhà nước. Giá trị này xuất hiện khi vốn nhà nước giúp hình thành một năng lực mà thị trường khó tự hình thành; tạo ra nó sớm hơn, ở quy mô đủ lớn; duy trì độ an toàn cần thiết trước biến động; hoặc đem lại lợi ích lan tỏa vượt khỏi lợi nhuận của một nhà đầu tư riêng lẻ.
Sở hữu nhà nước không tự thân tạo ra giá trị gia tăng. Kết quả kinh doanh tích cực vẫn chưa đủ chứng minh tính cần thiết của sở hữu nhà nước nếu doanh nghiệp không đảm nhận chức năng đặc thù, tạo năng lực mới hoặc sức lan tỏa khác biệt. Ngược lại, hạ tầng cửa ngõ, công nghệ lõi và năng lực dự phòng có thể chưa sinh lợi cao trong ngắn hạn nhưng tạo khả năng kết nối, tự chủ, chống chịu quốc gia. Vì vậy, nơi Nhà nước hiện diện nên được xác định bằng cấu trúc sứ mệnh, thay vì danh mục ngành nghề đóng kín.
Một là, trong thị trường tương đối hoàn chỉnh, doanh nghiệp nhà nước phải cạnh tranh bình đẳng, tuân thủ chuẩn mực chung về năng suất, lợi nhuận, vốn và quản trị; giá trị tăng thêm phải đến từ đổi mới, thương hiệu quốc gia và sự trưởng thành của hệ sinh thái, không phải lợi thế hành chính.
Hai là, doanh nghiệp nhà nước bảo đảm hạ tầng và các cân đối thiết yếu trong những lĩnh vực cần vốn lớn, thời gian thu hồi vốn dài, có tính liên kết hệ thống cao. Theo Tổng công ty Cảng hàng không Việt Nam, Cảng hàng không quốc tế Long Thành giai đoạn 1, công suất thiết kế 25 triệu hành khách và 1,2 triệu tấn hàng hóa mỗi năm, cần được đánh giá cả ở năng lực cửa ngõ hàng không, kết nối vùng và vị thế của Việt Nam trong mạng lưới vận tải quốc tế.
Ba là, doanh nghiệp nhà nước kiến tạo năng lực chiến lược trong những lĩnh vực có rủi ro công nghệ cao, chu kỳ đầu tư dài và hiệu ứng lan tỏa lớn. Việc Viettel phát triển kiến trúc mạng 5G trên cả năm lớp cho thấy sự khác biệt giữa khai thác thị trường viễn thông với kiến tạo nền tảng công nghệ quốc gia: giá trị còn nằm ở công nghệ, dữ liệu, nhân lực và khả năng tự chủ được giữ lại cho đất nước.
Bốn là, doanh nghiệp nhà nước cung ứng giá trị công, thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh và xã hội. Chuỗi hoạt động của Petrovietnam từ thăm dò, khai thác, chế biến đến điện và dịch vụ kỹ thuật cần được nhìn nhận cả ở đóng góp bảo đảm an ninh năng lượng, sức chống chịu của chuỗi cung ứng và sự hiện diện gắn với bảo vệ chủ quyền biển, đảo.
Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) cho rằng các sứ mệnh có thể cùng tồn tại trong một tập đoàn, nên phải được nhận diện đến từng lĩnh vực, dự án và phần vốn; xác định rõ kết quả, căn cứ hiện diện nhà nước, chi phí kinh doanh và nhiệm vụ công, thời hạn cùng điều kiện kết thúc hoặc chuyển đổi.
Sứ mệnh chỉ trở thành cam kết thực chất khi nối với hệ thước đo nhiều tầng. Tầng thứ nhất, kỷ luật tài chính và chất lượng quản trị: đánh giá bảo toàn vốn, cơ cấu nợ, quản trị rủi ro, chất lượng đầu tư, công khai và tuân thủ. Tầng thứ hai, hiệu quả kinh tế và năng lực cạnh tranh: đo năng suất, hiệu quả tài sản, tỷ suất sinh lời, chất lượng sản phẩm; đồng thời, phân biệt lợi nhuận từ đổi mới với lợi nhuận dựa vào tài nguyên, độc quyền hoặc lợi thế tiếp cận nguồn lực.
Tầng thứ ba, kết quả thực hiện sứ mệnh: đo độ tin cậy của hạ tầng; công nghệ lõi, tài sản trí tuệ, mức giảm phụ thuộc bên ngoài; chất lượng và chi phí nghĩa vụ công. Tầng thứ tư, sức lan tỏa đối với hệ sinh thái: đánh giá nhà cung cấp trong nước, giá trị nội địa, khả năng mở hạ tầng, nền tảng công nghệ và huy động vốn xã hội. Tầng thứ năm, đóng góp vào tự chủ và khả năng chống chịu quốc gia: xem xét sự chủ động về công nghệ, năng lượng, hạ tầng, chuỗi cung ứng; năng lực dự phòng và phục hồi sau cú sốc.
Hai tầng đầu là ngưỡng nền; ba tầng sau phản ánh giá trị gia tăng của sự hiện diện nhà nước. Trọng số phải thay đổi theo sứ mệnh. Mỗi sứ mệnh cần có kết quả cuối cùng, mốc trung gian và chỉ báo dẫn dắt để vừa chấp nhận độ trễ của đầu tư dài hạn, vừa nhận diện sớm lệch hướng, lãng phí. Hệ thước đo phải là nền tảng giao nhiệm vụ, phân bổ nguồn lực, theo dõi rủi ro, đánh giá người quản lý và quyết định tiếp tục hay điều chỉnh vốn nhà nước.
Tạo lập sự thống nhất giữa sứ mệnh, quyền hạn, rủi ro và trách nhiệm
Thước đo đúng có thể cho biết nguồn lực công đã tạo ra giá trị đến đâu, nhưng không tự làm phát sinh năng lực phát triển. Điều kiện thể chế căn bản là tạo lập sự thống nhất giữa sứ mệnh, quyền hạn, rủi ro và trách nhiệm: sứ mệnh đủ rõ để định hướng; quyền hạn đủ thực để hành động; rủi ro được phân loại đúng để khuyến khích đổi mới; trách nhiệm đủ nghiêm để bảo vệ nguồn lực thuộc sở hữu toàn dân.
Trước hết, cần xác lập đúng vai trò của cơ quan đại diện chủ sở hữu. Cơ quan này phải quyết định những vấn đề thuộc về sở hữu: căn cứ duy trì vốn, sứ mệnh, mục tiêu dài hạn, danh mục vốn, lựa chọn người quản trị và giám sát kết quả; nhưng không quyết định thay hội đồng thành viên, hội đồng quản trị và bộ máy điều hành trong hoạt động kinh doanh.
Nếu chỉ theo dõi chỉ tiêu tài chính sau khi sự việc diễn ra, vai trò chiến lược sẽ mờ nhạt; nếu can dự sâu vào từng dự án, hợp đồng và nhân sự tác nghiệp, chủ sở hữu lại trở thành một cấp điều hành thứ hai. Theo OECD, một nhà nước sở hữu chuyên nghiệp không quyết định nhiều việc nhất, mà phân định rõ việc gì mình phải quyết định, việc gì giao cho doanh nghiệp và kết quả nào cần giám sát.
Thứ hai, quyền tự chủ phải được thiết kế theo rủi ro và chất lượng quản trị. Doanh nghiệp quản trị tốt, minh bạch cần được trao không gian quyết định rộng hơn; dự án lớn, ảnh hưởng hệ thống hoặc an ninh quốc gia phải có kiểm soát tương xứng. Thể chế cần chuyển từ kiểm soát đồng đều bằng thủ tục sang giám sát dựa trên rủi ro; từ xin phép trước sang xác lập giới hạn, theo dõi bằng dữ liệu và quy trách nhiệm theo kết quả. Dữ liệu phải trở thành hạ tầng quản trị vốn nhà nước, có khả năng liên thông và cảnh báo sớm.
Thứ ba, phải phân biệt ba loại kết quả bất lợi: tổn thất do hành vi vi phạm như vụ lợi, cố ý làm trái phải bị xử lý nghiêm; tổn thất do yếu kém năng lực như quyết định thiếu căn cứ, thẩm định sơ sài phải quy trách nhiệm quản trị; còn rủi ro phát triển là quyết định đúng thẩm quyền, được chuẩn bị theo tiêu chuẩn nghề nghiệp, không vụ lợi nhưng không đạt kỳ vọng do biến động khó dự liệu.
Sự phân biệt này không hợp thức hóa thất bại, mà xác lập trách nhiệm đúng. Nếu vi phạm và quyết định thiện chí nhưng không thành công chịu cùng hệ quả, người quản trị sẽ trì hoãn hoặc né tránh rủi ro.
Bảo vệ người dám nghĩ, dám làm phải dựa trên điều kiện kiểm chứng được: quyết định đúng sứ mệnh, thẩm quyền; phương án chuẩn bị cẩn trọng; lợi ích, rủi ro và xung đột lợi ích được công khai; quá trình được giám sát và người quyết định sẵn sàng giải trình. Cần bảo vệ sự liêm chính, không bảo vệ tùy tiện; chấp nhận rủi ro phát triển, không dung thứ quản trị yếu kém.
Chất lượng người quản trị phải được đặt vào trung tâm. Lựa chọn lãnh đạo cần chuyển từ coi trọng quá trình công tác sang đánh giá năng lực quản trị vốn, công nghệ, thị trường và rủi ro. Đánh giá, đãi ngộ phải gắn với kết quả nhiều năm và khả năng thay thế khi không hoàn thành sứ mệnh. Không thể yêu cầu trách nhiệm cuối cùng đối với quyết định họ không đủ quyền đưa ra.
Khoa học - công nghệ và liên kết hệ sinh thái phải trở thành phương thức để doanh nghiệp nhà nước tạo giá trị vượt khỏi phạm vi của mình. Dẫn dắt không đồng nghĩa với mở rộng sở hữu sang mọi công đoạn, mà là nhận diện mắt xích chiến lược, đầu tư vào nền tảng có tác động rộng, đặt chuẩn mực, chia sẻ hạ tầng và tạo điều kiện để doanh nghiệp tư nhân, viện nghiên cứu, trường đại học cùng tham gia. Vốn nhà nước không thay thế vốn xã hội, mà tạo cấu trúc để các nguồn lực hội tụ, giảm rủi ro ban đầu và cùng hình thành năng lực mới.
Nâng cao hiệu suất chuyển hóa nguồn lực công là thiết kế lại quan hệ giữa Nhà nước với doanh nghiệp, giữa quyền quyết định với trách nhiệm, giữa chấp nhận rủi ro với kiểm soát quyền lực. Sứ mệnh rõ nhưng quyền hạn không đủ thì doanh nghiệp không thể hành động; quyền hạn lớn mà trách nhiệm không rõ thì nguồn lực có thể bị lạm dụng; doanh nghiệp phát triển mà hệ sinh thái không mạnh lên thì mới chỉ tạo ra năng lực cục bộ.
(*)PGS.TS. Trần Trung Tín, Giảng viên cao cấp Trường Đại học Công nghệ - Kỹ thuật, TP.Hồ Chí Minh.
Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 42-2026 phát hành ngày 19/10/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-42-2026.html
Bộ Xây dựng ban hành thủ tục hành chính nội bộ mới về phê chuẩn sơ đồ, bản đồ hàng không, đồng thời sửa đổi 3 thủ tục liên quan đến hoạt động bay và thông báo chuyến bay chuyên cơ, chuyên khoang...
Bộ Xây dựng phê duyệt dự án nâng cấp, mở rộng đường Hồ Chí Minh đoạn Pác Bó - Cao Bằng dài gần 39 km lên quy mô 4 làn xe, với tổng mức đầu tư gần 3.200 tỷ đồng...
Với việc công bố ba tầng ưu đãi đầu tư, TP. Hồ Chí Minh đã khẳng định vị thế trung tâm kinh tế năng động và hấp dẫn đầu tư nước ngoài. Thành phố không chỉ thu hút dòng vốn chất lượng cao mà còn mở rộng không gian đầu tư, đặc biệt trong các lĩnh vực công nghệ cao, hạ tầng và logistics…
Trong bối cảnh dòng vốn đầu tư toàn cầu không ngừng dịch chuyển và tái cấu trúc, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) chảy vào Việt Nam vẫn đạt mức cao nhất trong vòng 17 năm trở lại đây, với gần 55 tỷ USD…
Tháng 10/2026 ghi nhận xuất khẩu bứt phá mạnh mẽ, giúp cán cân thương mại tiếp tục xuất siêu 7,31 tỷ USD. Tính chung 10 tháng năm 2026, xuất khẩu đạt kỷ lục 499,24 tỷ USD, đưa tổng kim ngạch xuất nhập khẩu lần đầu vượt mốc 1.000 tỷ USD…
Chuyển đổi xanh ngành lúa gạo tại Đồng bằng sông Cửu Long không chỉ đòi hỏi giảm phát thải, nâng cao chất lượng hạt gạo mà còn phải bảo đảm sinh kế và phân chia lợi ích công bằng. Dự án GORICE hướng tới phát triển chuỗi giá trị lúa gạo bền vững, đồng thời trao quyền cho phụ nữ, người dân tộc thiểu số và các nhóm yếu thế tham gia, hưởng lợi bình đẳng.
Gắn kết vùng nguyên liệu với doanh nghiệp thông qua việc thúc đẩy liên kết chuỗi giá trị, kết nối cơ sở sản xuất với doanh nghiệp đầu chuỗi, kênh phân phối và thị trường tiêu thụ... là định hướng chung được Chính phủ xác định. Mô hình liên kết này đang mang lại giá trị kinh tế cao cho người dân, doanh nghiệp.