Đổi mới tư duy quản trị để hóa giải thách thức an ninh nguồn nước

Việt Nam có tổng dòng chảy nước mặt khoảng 844 tỷ m³ mỗi năm, nhưng 60% lượng nước đến từ bên ngoài lãnh thổ. Khi nhu cầu dùng nước tăng, phân bố không đồng đều và nhiều lưu vực chịu áp lực vào mùa cạn, yêu cầu đặt ra hiện nay là đổi mới quản trị tài nguyên nước tổng hợp, dựa trên thể chế, dữ liệu và giá trị kinh tế của nước…

Tình trạng căng thẳng nguồn nước đang gia tăng tại lưu vực sông Đồng Nai, với có chỉ số 58,78, thuộc nhóm căng thẳng nghiêm trọng. Ảnh Cục Quản lý tài nguyên nước.
Tình trạng căng thẳng nguồn nước đang gia tăng tại lưu vực sông Đồng Nai, với có chỉ số 58,78, thuộc nhóm căng thẳng nghiêm trọng. Ảnh Cục Quản lý tài nguyên nước.

Tại hội thảo “Thách thức và giải pháp quản trị tài nguyên nước bền vững ở Việt Nam”, diễn ra mới đây tại TP. Hồ Chí Minh, TS Nguyễn Văn Nghĩa, Trưởng phòng Lưu vực sông Đông Nam Bộ, Cục Quản lý tài nguyên nước, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã chia sẻ về hiện trạng tài nguyên nước, các tồn tại trong quản lý và giải pháp cần triển khai thời gian tới.

NGUỒN NƯỚC PHÂN BỐ KHÔNG ĐỒNG ĐỀU, PHỤ THUỘC NHIỀU VÀO BÊN NGOÀI

Theo TS Nguyễn Văn Nghĩa, đổi mới quản trị tài nguyên nước không chỉ nhằm bảo đảm đủ nước cho các ngành kinh tế mà còn là đặt ra yêu cầu phải thay đổi phương thức quản lý. Cách tiếp cận tư duy quản lý tài nguyên nước trước đây chủ yếu dựa vào công cụ hành chính, cấp phép khai thác và quản lý theo địa giới.

Trong bối cảnh hiện nay, trước những biến đổi của khí hậu, địa chính trị cũng như nhu cầu phát triển kinh tế xã hội, quản trị tài nguyên nước cần được tổ chức theo lưu vực sông, có phối hợp giữa các ngành, địa phương và dựa trên dữ liệu cập nhật.

“Hiện nay chúng ta phải đổi mới tư duy, chuyển sang quản trị tài nguyên nước quốc gia. Theo đó, các trụ cột của phương thức mới gồm: công cụ kinh tế để tính đúng, tính đủ giá trị của nước; tăng cường hậu kiểm và giám sát theo thời gian thực; quản lý tổng hợp theo lưu vực; ứng dụng chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; cân bằng giữa khai thác, bảo vệ và phục hồi nguồn nước", ông Nghĩa nhấn mạnh.

Việt Nam có 13 lưu vực sông lớn, khoảng 3.450 sông, suối dài từ 10 km trở lên, tổng dòng chảy nước mặt khoảng 844 tỷ m3, trong đó khoảng 60% có nguồn gốc từ nước ngoài.

Nước dưới đất có trữ lượng tiềm năng khoảng 91 tỷ m3/năm, trong đó khoảng 69 tỷ m3 là nước ngọt trong 61 tầng chứa nước, lượng có thể khai thác khoảng 22 tỷ m3. Hiện lượng nước dưới đất được khai thác mới chiếm khoảng 3,5%, chủ yếu phục vụ sinh hoạt, công nghiệp và sản xuất.

Phân tích về hiện trạng phân bố lượng nước giữa các lưu vực sông trên toàn quốc, ông Nghĩa cho biết có mức chênh lệch đáng kể. Chẳng hạn, lưu vực sông Cửu Long chiếm khoảng 56,2% tổng lượng nước cả nước, tiếp đến là lưu vực sông Hồng - Thái Bình. Tính theo mùa, khoảng 60 - 80% lượng dòng chảy tập trung vào mùa lũ, trong khi mùa cạn kéo dài 7 - 9 tháng chỉ chiếm khoảng 20 - 40%.

Mức độ phụ thuộc nguồn nước xuyên biên giới của từng sông cũng khác nhau. Tại lưu vực sông Cửu Long, khoảng 95% lượng nước chảy vào đến từ nước ngoài, trong khi đó tại lưu vực sông Hồng - Thái Bình, tỷ lệ nước chảy vào từ Trung Quốc khoảng 40%.

TS. Nguyễn Văn Nghĩa, Trưởng phòng Lưu vực sông Đông Nam Bộ, Cục Quản lý tài nguyên nước, Bộ Nông nghiệp và Môi trường. Ảnh: Nguyệt Hà.
TS. Nguyễn Văn Nghĩa, Trưởng phòng Lưu vực sông Đông Nam Bộ, Cục Quản lý tài nguyên nước, Bộ Nông nghiệp và Môi trường. Ảnh: Nguyệt Hà. 

Về trữ lượng nước, cả nước hiện có khoảng 6.733 hồ chứa thủy lợi, 705 hồ chứa thủy điện và khoảng 17.000 hồ, ao, đầm, phá; riêng Đồng bằng sông Cửu Long có khoảng 25 hồ chứa.

Về nhu cầu, nhu cầu nước phục vụ cho sản xuất nông nghiệp đang chiếm khoảng 80% tổng lượng nước khai thác, chủ yếu từ nguồn nước mặt. Trong cấp nước đô thị, khoảng 18,5% công trình lấy nước trực tiếp từ hồ chứa, 47,7% phụ thuộc điều tiết của hồ chứa thượng lưu, 33,6% còn lại lấy nước từ các sông không được điều tiết. Ở nông thôn, khoảng 45% công trình cấp nước được đánh giá là kém bền vững.

Với 705 hồ chứa thủy điện với tổng công suất phát điện đạt khoảng 25.000 MW, công suất các công trình trong quy trình vận hành liên hồ chiếm khoảng 67% tổng công suất hệ thống thủy điện. Về thủy lợi, tỷ lệ diện tích đất được tưới bằng công trình thủy lợi tại lưu vực sông Hồng - Thái Bình đạt khoảng 90%, trong khi lưu vực sông Ba khoảng 23%.

Từ hiện trạng đó, ông Nghĩa chỉ ra bốn nhóm thách thức đối với việc quản trị tài nguyên nước của Việt Nam.

Thứ nhất, tình trạng căng thẳng nguồn nước đang gia tăng, đặc biệt trong mùa cạn và tại một số khu vực như Đồng bằng sông Cửu Long. Theo số liệu từ Bộ Tài nguyên và Môi trường, các lưu vực sông nước ta trong mùa cạn hiện đều có chỉ số an ninh nguồn nước từ căng thẳng đến căng thẳng nghiêm trọng. Trong số đó, lưu vực sông Đồng Nai có chỉ số 58,78, thuộc nhóm căng thẳng nghiêm trọng; các lưu vực sông Hồng, Trà Khúc, Kôn và Hà Thanh cũng ở mức rất cao.

Thứ hai, nhu cầu dùng nước cho sản suất, tiêu dùng ngày càng gia tăng trong khi hiệu quả sử dụng giữa các lưu vực còn chênh lệch. Nhu cầu hiện khoảng 117 tỷ m3/năm, dự báo tăng lên khoảng 122 tỷ m3/năm vào năm 2030, như vậy là đã tăng khoảng ba lần so với 50 năm trước. Về giá trị kinh tế tạo ra trên mỗi m3 nước, lưu vực sông Đồng Nai có giá trị cao nhất, khoảng 8,2 USD/m3 (theo tính toán của cơ quan quản lý); lưu vực sông Kôn - Hà Thanh thấp nhất.

Thứ ba, tình trạng báo động về ô nhiễm, xâm nhập mặn và suy thoái dòng chảy. Tại lưu vực sông Vàm Cỏ, xâm nhập mặn có thời điểm vào sâu khoảng 50 - 70 km. Lưu vực sông Hồng - Thái Bình ô nhiễm hữu cơ và dinh dưỡng ở mức báo động. Hạ thấp lòng dẫn và ô nhiễm hữu cơ cũng được ghi nhận tại nhiều khu vực sông như sông Tích, sông Nhuệ và hạ lưu sông Đồng Nai - Sài Gòn…, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến công trình cấp nước tại TP. Hồ Chí Minh và tỉnh Đồng Nai.

Thứ tư, những bất cập, khoảng trống về thể chế, công cụ và nguồn lực quản trị tài nguyên nước. Hiện toàn quốc mới có 8/13 lưu vực sông có quy hoạch tổng hợp liên tỉnh, một số quy hoạch mới được phê duyệt hoặc đang lập. Mới có 137 hồ lớn trong tổng số khoảng 7.400 hồ chứa vận hành theo quy trình liên hồ, các hồ còn lại theo quy trình đơn hồ; việc giám sát thực tế các công trình khai thác, sử dụng nước chưa đạt 100%.

Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới, chỉ số an ninh nguồn nước của Việt Nam mới đạt 2/5, thuộc nhóm thấp so với mặt bằng chung thế giới.

SÁU NHÓM GIẢI PHÁP VÀ LỘ TRÌNH TỚI 2050

Trước những thách thức trên, ông Nghĩa đề xuất sáu nhóm giải pháp để quản trị tài nguyên nước bền vững, đảm bảo an ninh nguồn nước quốc gia.

Thứ nhất, hoàn thiện thể chế, quy hoạch và tăng cường phối hợp giữa các ngành, địa phương.

Theo ông Nghĩa, cần hoàn thành quy hoạch tổng hợp các lưu vực sông, điều chỉnh quy trình vận hành liên hồ chứa và tăng phối hợp liên ngành, liên tỉnh. Cơ quan quản lý dự kiến rà soát, sửa đổi Luật Tài nguyên nước trong năm 2027.

Thứ hai, tách bạch quản lý tài nguyên nước với quản lý hạ tầng. Tài nguyên nước là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước thống nhất quản lý, nên cần đặt trong khuôn khổ thống nhất, không đồng nhất với quản lý công trình khai thác, sử dụng nước.

Thứ ba, tăng cường điều hòa, phân phối tài nguyên nước. Công tác này đã được triển khai hai năm theo Luật Tài nguyên nước năm 2023, trọng tâm là xây dựng kịch bản nguồn nước theo từng lưu vực, làm căn cứ để các ngành, địa phương lập kế hoạch khai thác, sử dụng.

Về nguy cơ hạn hán, ông Nghĩa cho biết đối với các lưu vực sông có nguy cơ xảy ra hạn hán, nhất là theo dự báo El Nino vào năm 2027 sắp tới, chúng tôi phải chủ động xây dựng phương án điều hòa, phân phối nguồn nước.

Thứ tư, chuyển đổi số và quản trị dựa trên dữ liệu. Nhiệm vụ trước mắt là đẩy mạnh quan trắc, giám sát các công trình khai thác, sử dụng nước và hồ chứa, đưa dữ liệu lên cơ sở dữ liệu tài nguyên nước quốc gia. Hệ thống đã được đưa vào dự án đầu tư công, sẽ hoàn thiện để các cấp cùng khai thác.

Thứ năm, dùng công cụ kinh tế để tính đúng, tính đủ giá trị của nước. Luật Tài nguyên nước năm 2023 đã đưa nội dung hạch toán tài nguyên nước vào khuôn khổ pháp lý, với lộ trình đến năm 2030. Trong quá trình sửa đổi Luật dự kiến năm 2027, cơ quan quản lý sẽ nghiên cứu cơ chế, chính sách để tính đúng, tính đủ giá trị của nước.

Thứ sáu, bảo đảm an ninh nguồn nước gắn với phục hồi và hợp tác. Cơ quan quản lý xây dựng kế hoạch phục hồi các dòng sông ô nhiễm, suy thoái, gồm Bắc Hưng Hải và Nhuệ - Đáy; thúc đẩy sử dụng nước tiết kiệm, tuần hoàn, tăng tích trữ và phát huy hồ chứa.

Theo Luật Tài nguyên nước, khoảng 17.000 hồ, ao không được san lấp, các địa phương ban hành danh mục bảo vệ.

Hợp tác nguồn nước xuyên biên giới được nhấn mạnh, nhất là tại lưu vực sông Cửu Long, nơi phụ thuộc lớn vào nguồn nước từ bên ngoài.

Về lộ trình, trong năm 2026, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đặt mục tiêu là hoàn thành quy hoạch 13/13 lưu vực sông, tổng kiểm kê tài nguyên nước quốc gia và sớm công bố kịch bản nguồn nước ứng phó El Nino năm 2027. Hiện nay việc rà soát 11 quy trình vận hành liên hồ chứa đã hoàn thành và đang trình Chính phủ ban hành.

Đến năm 2030, nhiệm vụ trọng tâm là hoàn thiện cơ sở dữ liệu, hệ thống thông tin tài nguyên nước quốc gia và hệ thống hỗ trợ ra quyết định; triển khai hạch toán tài nguyên nước; đưa chỉ số an ninh nguồn nước lên nhóm hiệu quả tại Đông Nam Á. Tầm nhìn đến năm 2050, hiệu quả sử dụng nước tiệm cận các nước tiên tiến, phục hồi các nguồn nước và dòng sông ô nhiễm trong khu vực đô thị, đặc biệt tại Hà Nội.

Ông Nghĩa nhấn mạnh: “Nước là tài sản công và là đầu vào có giá trị của tăng trưởng; quản trị bền vững tài nguyên nước dựa trên thể chế, dữ liệu và giá trị của nước là điều kiện để bảo đảm an ninh nguồn nước, an ninh lương thực và an ninh năng lượng trong kỷ nguyên mới”.

Khung giá điện mặt trời 2026: Đòn bẩy cho tiến trình chuyển đổi xanh của ngành công nghiệp

Bộ Công Thương vừa ban hành khung giá phát điện mặt trời năm 2026, nâng mức trần cả ba miền và lần đầu phân loại phương án có pin lưu trữ. Quy định mới tạo cơ sở rõ ràng để doanh nghiệp tính toán đầu tư, mở đường gia tăng nguồn cung điện sạch phục vụ cho sản xuất công nghiệp bền vững...

Phật giáo toàn quốc thống nhất 12 nhiệm vụ trọng tâm

Đại hội đại biểu Phật giáo toàn quốc lần thứ X đã thống nhất 12 mục tiêu, nhiệm vụ trọng tâm cho nhiệm kỳ mới; kiện toàn nhân sự Hội đồng Chứng minh, Hội đồng Trị sự và thông qua Hiến chương sửa đổi lần thứ VIII. Đại hội cũng nhấn mạnh yêu cầu đổi mới tổ chức, đẩy mạnh chuyển đổi số, thích ứng với mô hình chính quyền địa phương hai cấp, tiếp tục phát huy tinh thần đoàn kết, hòa hợp và phụng sự Đạo pháp, Dân tộc...

Kiên quyết không lùi tiến độ, bảo đảm cấp điện năm 2027-2028

Đối mặt thách thức nhu cầu điện tăng cao, thiếu nguồn điện nền mới, El Niño kéo dài và rủi ro gián đoạn cung ứng nhiên liệu giai đoạn 2027-2028, ngành Công Thương kiên quyết triển khai đồng bộ các kịch bản vận hành, không lùi tiến độ công trình, bảo đảm cung ứng điện…

Giáo hội Phật giáo Việt Nam bước vào nhiệm kỳ mới với phương châm “Kỷ cương - Đổi mới - Hiệu lực - Hiệu quả”.

Phát biểu tại Đại hội đại biểu Phật giáo toàn quốc lần thứ X, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn ghi nhận, đánh giá cao những đóng góp của Giáo hội Phật giáo Việt Nam trong củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đồng hành cùng sự nghiệp phát triển đất nước. Ông đề nghị Giáo hội tiếp tục phát huy truyền thống, xây dựng tổ chức vững mạnh, gắn bó với dân tộc trong nhiệm kỳ mới.

Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội 10 tháng đầu năm 2026 ghi nhận nhiều con số kỷ lục. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu lần đầu tiên vượt mốc 1.000 tỷ USD, vốn FDI đăng ký đạt mức cao nhất kể từ năm 2009 đến nay (54,85 tỷ USD), vốn FDI thực hiện cũng đạt mức cao nhất trong 5 năm qua (24,08 tỷ USD). Cùng với sự phục hồi mạnh mẽ của sản xuất công nghiệp, bán lẻ và du lịch, nền kinh tế Việt Nam đang chứng tỏ đà tăng trưởng vững chắc…

Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khoá XVI

Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khoá XVI

Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khoá XVI dự kiến kéo dài 28 ngày bắt đầu từ 17/10/2026. Kỳ họp với khối lượng công việc lớn, dự kiến xem xét, thông qua 43 luật, nghị quyết quy phạm pháp luật và quyết định...

Việt Nam: Khát vọng quốc gia biển mạnh

Việt Nam: Khát vọng quốc gia biển mạnh

Yêu cầu cốt lõi mà Nghị quyết 20 đặt ra là phải biến nước ta từ một quốc gia có biển thành một quốc gia biển mạnh, với kinh tế biển phát triển hiện đại, có năng lực cạnh tranh cao, đồng thời giữ vững...

VnEconomy Interactive

VnEconomy Interactive

Interactive là một sản phẩm báo chí mới của VnEconomy vừa được ra mắt bạn đọc từ đầu tháng 3/2023 đã gây ấn tượng mạnh với độc giả bởi sự mới lạ, độc đáo. Đây cũng là sản phẩm độc quyền chỉ có trên...

VnEconomy
VnEconomy