Ngày 20/10/2026 tại Hà Nội, Báo Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với Cục Quản lý tài nguyên nước (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) tổ chức hội thảo “Đưa Luật Tài nguyên nước vào cuộc sống: Chủ động nguồn nước, điều hòa và vận hành hiệu quả”, nhằm nhận diện những điểm nghẽn trong quản lý, khai thác, phân phối tài nguyên nước, thúc đẩy ứng dụng khoa học công nghệ và bảo đảm an ninh nguồn nước trước tác động của biến đổi khí hậu.
Phát biểu khai mạc, bà Lý Thị Hồng Điệp, Phó Tổng biên tập Báo Nông nghiệp và Môi trường, cho biết nước là tài nguyên thiết yếu, nền tảng bảo đảm an ninh quốc gia và phát triển bền vững. Tuy nhiên, biến đổi khí hậu, hạn hán, thiếu nước, xâm nhập mặn và nhu cầu sử dụng ngày càng tăng đang đặt ra nhiều thách thức.
Theo bà Nguyễn Thị Phương, Phó Trưởng phòng Lưu vực sông Hồng - Thái Bình, Cục Quản lý tài nguyên nước, Luật Tài nguyên nước năm 2023 gồm 10 chương, 86 điều, quy định về bảo vệ, điều hòa, phân phối, khai thác, sử dụng và phục hồi nguồn nước. Luật xác định nguyên tắc quản lý thống nhất theo lưu vực sông và nguồn nước, kết hợp với địa giới hành chính; yêu cầu khai thác phù hợp khả năng đáp ứng của nguồn nước, bảo đảm tiết kiệm và hiệu quả.
Theo tham luận của TS. Nguyễn Ngọc Hà, Phó Tổng Giám đốc Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia, khoảng 60% lượng nước của Việt Nam đến từ ngoài lãnh thổ, riêng lưu vực sông Cửu Long gần 95%. Nước mặt chiếm 96,5% lượng nước khai thác, trong khi nông nghiệp sử dụng khoảng 86% tổng lượng nước của các ngành.
Những số liệu này cho thấy thách thức không chỉ nằm ở trữ lượng mà còn ở khả năng kiểm soát, tích trữ và phân phối nước theo không gian, thời gian và nhu cầu. Nếu dự báo khí tượng thủy văn cho biết biến động lượng mưa, dòng chảy, thì kịch bản nguồn nước phải xác định khả năng đáp ứng nhu cầu, khu vực và thời điểm thiếu nước, từ đó điều chỉnh hoạt động khai thác, sử dụng.
Trước nguy cơ El Niño giai đoạn 2026–2027 và khả năng thiếu hụt nguồn nước tại nhiều lưu vực, việc cập nhật kịch bản, xác định thứ tự ưu tiên sử dụng nước, bảo đảm dòng chảy tối thiểu và xây dựng phương án cấp nước theo từng mức độ rủi ro là yêu cầu cấp bách”.
Đại diện Công ty Thủy lợi Bắc Hưng Hải cho hay Hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hải được xây dựng từ năm 1958, phục vụ tưới tiêu, cấp nước sinh hoạt, công nghiệp và bảo vệ môi trường cho hơn 192.000 ha thuộc Hà Nội, Bắc Ninh, Hưng Yên và Hải Phòng. Tuy nhiên, mực nước sông Hồng suy giảm khiến khả năng lấy nước qua cống Xuân Quan chỉ đạt khoảng 20% thiết kế; xâm nhập mặn và ô nhiễm từ khoảng 538.838 m3 nước thải mỗi ngày chưa đạt chuẩn tiếp tục gây áp lực. Bão lũ cực đoan, đặc biệt là bão Yagi năm 2024, cũng đe dọa các công trình đã vận hành hơn 60 năm.
Để nâng cao hiệu quả quản lý, công ty đã triển khai quan trắc tự động, hệ thống SCADA tại 12 công trình, điều khiển cống từ xa và số hóa dữ liệu. Ngày 1/10/2026, Cổng thông tin điện tử Bắc Hưng Hải được ra mắt; cụm trạm bơm dã chiến Xuân Quan công suất 32 m3/s được đầu tư bổ cập nguồn nước. Công ty kiến nghị đẩy nhanh xây dựng các đập dâng trên sông Hồng, sông Đuống, sông Đà; kiểm soát xả thải, hoàn thiện hệ thống thu gom nước thải và tăng cường liên kết, chuyển nước giữa các khu vực.
GS.TS Nguyễn Quốc Dũng, Chủ tịch Hội Đập lớn và Phát triển nguồn nước Việt Nam, cho rằng ứng dụng khoa học công nghệ, trí tuệ nhân tạo (AI) và chuyển đổi số trong vận hành hồ đập là yêu cầu bắt buộc. Tuy nhiên, quá trình hiện đại hóa còn gặp khó khăn về thể chế, cơ chế phối hợp vận hành theo thời gian thực và kết nối dữ liệu giữa các công trình trong cùng lưu vực.
Theo ông Dũng, chỉ khoảng 17% hồ chứa được trang bị thiết bị quan trắc khí tượng thủy văn chuyên dùng tự động. Dữ liệu giữa các ngành và chủ hồ còn phân tán, thiếu chuẩn kết nối; nhiều quy trình vận hành vẫn dựa vào biểu đồ điều phối tĩnh. Việc phối hợp giữa hồ thủy điện và hồ thủy lợi trên cùng lưu vực cũng còn bất cập.
Trong khi đó, vận hành hồ chứa phải đồng thời bảo đảm cấp nước, phát điện mùa cạn, duy trì dung tích phòng lũ, an toàn công trình và giảm thiểu thiệt hại cho vùng hạ du.
Bản đồ ngập lụt động dựa trên dữ liệu định vị trạm BTS cũng được ông Dũng đề xuất để xác định dân số chịu ảnh hưởng, phục vụ cứu hộ, sơ tán.
Để khắc phục, cần xây dựng nền tảng số và hệ thống hỗ trợ ra quyết định dùng chung theo lưu vực sông, tích hợp dữ liệu quan trắc tự động, viễn thám, dự báo mưa, giám sát an toàn công trình và bản đồ rủi ro dân sinh. AI, mô hình thủy lực 1D/2D và công nghệ bản sao số có thể hỗ trợ mô phỏng ngập lụt, dự báo và điều hành xả lũ.
Bên cạnh đổi mới quản trị và công nghệ, hội thảo tập trung vào giải pháp liên kết, chuyển nước giữa các khu vực nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn tài nguyên hiện có.
Theo tham luận của Viện Quy hoạch Thủy lợi, Bắc Trung Bộ hiện có hơn 2.500 hồ chứa lớn, nhỏ, trong đó có các công trình dung tích đáng kể như Cửa Đạt, Ngàn Trươi và Tả Trạch. Tuy nhiên, khả năng xây dựng thêm hồ chứa quy mô lớn ngày càng hạn chế, trong khi nhu cầu nước phục vụ phát triển kinh tế - xã hội tiếp tục tăng.
Tổng nhu cầu sử dụng nước của khu vực hiện khoảng 10,8 tỷ m3, dự kiến tăng lên 11,72 tỷ m3 vào năm 2050. Sức ép tập trung tại các khu kinh tế ven biển, đô thị và vùng sản xuất nông nghiệp tập trung.
Viện Quy hoạch Thủy lợi đề xuất nghiên cứu cân bằng nguồn nước nội vùng, liên vùng, liên lưu vực; xác định khu vực thừa, thiếu nước, đánh giá tính khả thi và xây dựng giải pháp kỹ thuật kết nối các công trình hiện có, chuyển nước từ nơi có khả năng cung cấp sang khu vực thiếu nước.
Chuyên gia cho rằng Luật Khí tượng thủy văn sửa đổi cần được thiết kế trên toàn bộ chuỗi từ quan trắc đến truyền nhận tin và những quản lý dữ liệu đến phân tích, giám sát biến đổi khí hậu, đến dự báo cảnh báo, cung cấp thông tin, dịch vụ khí tượng thủy văn, dịch vụ khí hậu và hỗ trợ ra quyết định. Trong đó, dự báo dựa trên tác động và dịch vụ khí hậu là hai hướng phát triển quan trọng...
Đề xuất quy định cụ thể nguồn khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường phục vụ hoạt động điều phối, mạng lưới điều phối nguồn vật liệu, cơ chế điều phối nguồn vật liệu... sẽ tạo hành lang pháp lý quan trọng để giải quyết vấn đề điều phối nguồn vật liệu phục vụ các dự án, đặc biệt các dự án trọng điểm...
Cùng với việc kiểm soát chặt các nguồn phát thải bụi và khí thải từ xây dựng, đốt rác, phụ phẩm nông nghiệp, giảm phát thải từ giao thông, Hà Nội sẽ sử dụng kết quả quan trắc, dự báo khí tượng và dự báo chất lượng không khí để chủ động khuyến cáo, triển khai biện pháp phòng ngừa, ứng phó từ sớm, trước 5-7 ngày khi có tín hiệu nguy cơ ô nhiễm...
Quy tắc thực hiện Cơ chế tín chỉ chung (JCM) quy định cụ thể quy trình, thủ tục triển khai các dự án JCM, bao gồm xây dựng và phê duyệt ý tưởng dự án; xem xét, phê duyệt đăng ký dự án; cấp và phân bổ tín chỉ carbon giữa các bên tham gia...
Dự án sẽ sử dụng công nghệ Bloom Energy, dự kiến bắt đầu xây dựng vào năm 2026 và dự kiến vận hành toàn bộ vào cuối năm 2028...
Mời quý độc giả đón đọc Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 42-2026 phát hành ngày 19/10/2025 với nhiều chuyên mục hấp dẫn...
Xây dựng Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh là một chiến lược dài hạn, đòi hỏi sự chuyển đổi đồng bộ từ tư duy phát triển, mô hình quản trị đến cách khai thác và sử dụng nguồn lực biển.