“Tốc độ tăng trưởng GRDP của Thủ đô năm 2025 ước đạt khoảng 8,5%. Đây là mức tăng trưởng cao so với năm trước, đặc biệt trong bối cảnh năm 2025 tiếp tục đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức từ tình hình kinh tế trong nước và quốc tế.
Cùng với tăng trưởng kinh tế, các chỉ tiêu vĩ mô khác của Hà Nội cũng ghi nhận kết quả tích cực. Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn đến nay ước đạt khoảng 650 nghìn tỷ đồng, mức cao nhất từ trước đến nay. Kết quả này phản ánh nỗ lực lớn của thành phố trong việc phục hồi sản xuất kinh doanh, mở rộng cơ sở thu và cải thiện hiệu quả quản lý ngân sách.
Bên cạnh đó, công tác giải ngân, đặc biệt là giải ngân vốn đầu tư công, được xác định là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Thủ đô trong năm 2025. Nhiều dự án hạ tầng, chỉnh trang đô thị và các công trình trọng điểm được tập trung tháo gỡ vướng mắc, đẩy nhanh tiến độ triển khai, qua đó tạo hiệu ứng lan tỏa đối với các ngành, lĩnh vực kinh tế khác không chỉ với Thủ đô mà các tỉnh, thành phố lân cận.
Trong những tháng cuối năm, thành phố tiếp tục tập trung nguồn lực cho các ngành dịch vụ, trong đó du lịch được xác định là điểm sáng. Năm 2025, tổng lượng khách du lịch đến Hà Nội ước đạt trên 33 triệu lượt, trong đó có khoảng 7–8 triệu lượt khách quốc tế. Kết quả này cho thấy sự phục hồi rõ nét của ngành du lịch, đồng thời góp phần quan trọng vào tăng trưởng chung của kinh tế Thủ đô.
Một trong những yếu tố tạo nền tảng quan trọng cho quá trình phát triển của Hà Nội thời gian qua là việc Quốc hội đã thông qua nhiều luật, nghị quyết tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho hoạt động sản xuất kinh doanh, trong đó có các cơ chế, chính sách dành riêng cho Thủ đô.
Đáng chú ý, Nghị quyết số 258/2025/QH15 về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù để thực hiện các dự án lớn, quan trọng trên địa bàn Thủ đô đã tạo ra khuôn khổ pháp lý mới, giúp thành phố có thêm dư địa khai thông nguồn lực cho đầu tư và phát triển. Nghị quyết này tập trung tháo gỡ các rào cản vốn được xem là điểm nghẽn trong quá trình triển khai các dự án mang tính động lực, như công tác quy hoạch, giao đất, cơ chế bồi thường, giải phóng mặt bằng và tổ chức thực hiện dự án.
Các nhóm chính sách này sẽ giúp thành phố chủ động hơn trong việc chuẩn bị và triển khai các dự án lớn, trong đó có nhiều dự án dự kiến khởi công trong dịp 19/12/2025, với quy mô đầu tư rất lớn, có những dự án lên tới cả triệu tỷ đồng.
Việc triển khai đồng bộ các dự án trọng điểm, đặc biệt là các dự án quy mô lớn, sẽ tạo xung lực mới cho phát triển kinh tế Thủ đô. Trên cơ sở đó, Hà Nội sẽ tiếp tục tập trung chỉnh trang, tái thiết các khu đô thị hiện hữu, qua đó lan tỏa động lực tăng trưởng sang các địa phương lân cận và các lĩnh vực kinh tế khác.
Với những nền tảng và động lực đang được củng cố, Hà Nội đặt mục tiêu tạo đà cho giai đoạn phát triển mới với tốc độ tăng trưởng cao hơn, hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố đã đề ra”.
“Trong hơn 80 năm qua, ngành Nông nghiệp và Môi trường đã đóng góp quan trọng vào sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, giữ vai trò bảo đảm an ninh lương thực quốc gia, ổn định xã hội, đồng thời là nền tảng cho nhiều ngành kinh tế và thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững, cam kết quốc tế của Việt Nam.
Từ một quốc gia phải nhập khẩu hàng triệu tấn lương thực mỗi năm, Việt Nam hiện đã trở thành một trong những cường quốc sản xuất và xuất khẩu nông, lâm, thủy sản. Nhiều mặt hàng như lúa gạo, cà phê, điều, trái cây nằm trong nhóm dẫn đầu thế giới, với sản phẩm nông nghiệp Việt Nam đã có mặt tại gần 200 quốc gia và vùng lãnh thổ.
Trong 11 tháng năm 2025, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu nông, lâm, thủy sản đạt trên 64 tỷ USD, tăng gần 13% so với cùng kỳ năm trước, trong đó xuất siêu đạt 19,55 tỷ USD, tăng 19%. Ước tính cả năm 2025, kim ngạch xuất nhập khẩu toàn ngành đạt khoảng 70 tỷ USD, xuất siêu khoảng 21 tỷ USD, vượt mục tiêu đề ra.
Mặc dù đối mặt nhiều khó khăn do biến đổi khí hậu, thiên tai và biến động thị trường thế giới, ngành nông nghiệp vẫn duy trì mức tăng trưởng khoảng 4% trong nhiều năm qua, đóng góp quan trọng vào tăng trưởng chung của nền kinh tế. Riêng năm 2025, lĩnh vực này dự kiến đóng góp khoảng 5,5% vào tăng trưởng GDP cả nước.
Cùng với đó, diện mạo nông thôn và đời sống người dân tiếp tục được cải thiện, tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 1,93%, độ che phủ rừng đạt 42,03%. Các lĩnh vực quản lý tài nguyên và môi trường như đất đai, khoáng sản, tài nguyên nước, rừng, biển, khí tượng thủy văn cũng có bước phát triển mạnh, đóng góp ngày càng rõ nét cho nền kinh tế.
Mặc dù đạt được nhiều kết quả tích cực, song thời gian tới ngành cũng sẽ phải đối mặt với không ít thách thức, đó là tăng trưởng chưa thực sự ổn định, giá trị gia tăng còn thấp, thu nhập của người dân nông thôn trực tiếp sản xuất nông nghiệp còn hạn chế, trong khi tác động của biến đổi khí hậu ngày càng rõ nét. Ngoài ra, bất ổn địa chính trị và xu hướng bảo hộ thương mại, rào cản kỹ thuật tại nhiều thị trường xuất khẩu đòi hỏi nông sản Việt Nam phải chuyển mạnh sang hướng xanh hơn, sạch hơn và minh bạch hơn.
Để góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng hai con số của nền kinh tế giai đoạn 2026–2030, ngành Nông nghiệp và Môi trường đặt mục tiêu duy trì tốc độ tăng trưởng khoảng 3,5% mỗi năm trong 5 năm tới. Trong đó, trọng tâm là bảo đảm an ninh lương thực quốc gia, không để xảy ra thiếu đói cục bộ, đồng thời hướng tới mục tiêu kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản đạt 100 tỷ USD.
Ngành cũng sẽ đẩy mạnh chuyển đổi mô hình sản xuất theo hướng xanh, sạch, an toàn thực phẩm, phát triển nông nghiệp tuần hoàn, giảm phát thải, tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ, chế biến sâu nhằm nâng cao năng suất và giá trị gia tăng. Song song với đó là chủ động phòng, chống thiên tai, giảm thiểu tác động bất lợi của thời tiết cực đoan tới sản xuất và đời sống người dân.
Trong quản lý tài nguyên, sẽ thúc đẩy việc sử dụng hiệu quả đất đai, khoáng sản thông qua tăng cường giám sát bằng công nghệ số, viễn thám và trí tuệ nhân tạo; đồng thời, đẩy mạnh phục hồi rừng tự nhiên và hệ sinh thái rừng ngập mặn để bảo đảm đa dạng sinh học.
Về môi trường, ngành đặt mục tiêu triển khai quyết liệt các giải pháp giảm ô nhiễm, phát triển bền vững theo xu hướng toàn cầu. Đáng chú ý, ngay đầu năm 2026, Việt Nam phấn đấu hình thành thị trường tín chỉ carbon, trước mắt là thị trường trong nước, sau đó từng bước kết nối với thị trường quốc tế, phù hợp với các cam kết và lợi ích quốc gia.
Đặc biệt, Bộ Nông nghiệp và Môi trường sẽ tiếp tục hoàn thiện thể chế, chính sách phát triển, bám sát các kết luận, chỉ đạo của Trung ương, Bộ Chính trị và Chính phủ. Trong kỳ họp thứ 10 vừa qua, Quốc hội đã thông qua việc sửa đổi đồng loạt 17 luật do Bộ chủ trì, bước đầu tháo gỡ nhiều điểm nghẽn, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp và người dân trong sản xuất, kinh doanh.
Chuyển đổi xanh, phát triển bền vững và kinh tế tuần hoàn không chỉ là yêu cầu bắt buộc mà còn là hướng đi chiến lược để ngành Nông nghiệp và Môi trường tiếp tục đóng góp hiệu quả cho tăng trưởng kinh tế đất nước trong giai đoạn tới”.
“Theo tôi, để đạt được mục tiêu tăng trưởng hai con số, Việt Nam có thể tham khảo chiến lược 4S.
Chữ S thứ nhất là Scale (Quy mô). Chúng tôi khuyến nghị Việt Nam nên thúc đẩy phát triển hơn nữa cơ sở hạ tầng. Chẳng hạn, về hạ tầng logistics, cần xây dựng hiệu quả hệ thống cảng biển, hàng không,... đảm bảo chất lượng đồng bộ toàn bộ hệ thống.
Chúng tôi đánh giá cao việc Chính phủ Việt Nam đã rất tích cực cải cách hành chính thời gian qua. Nếu được đề xuất thêm, chúng tôi mong muốn Chính phủ cân nhắc việc thiết lập “luồng xanh”, tạo điều kiện thuận lợi thủ tục hải quan, thủ tục xuất nhập khẩu, cấp phép đầu tư,... Như vậy, sẽ giúp Việt Nam tăng cường tính cạnh tranh trên thị trường toàn cầu.
Chữ S thứ hai là “School”(Trường học), đầu tư vào giáo dục cũng chính là đầu tư vào đổi mới sáng tạo. Đối với vấn đề này, chúng tôi thấy rằng Việt Nam cũng đang dành rất nhiều sự quan tâm.
Chữ S thứ ba là “Smart” (Thông minh), chúng ta phải đầu tư vào công nghệ để nâng cao hiệu quả hoạt động. Dĩ nhiên, đây đều là những lĩnh vực đòi hỏi nhiều thời gian, nỗ lực và vốn.
Chữ S cuối cùng là “Sustainable” (Bền vững). Đối với mục tiêu này, Việt Nam có thể thiết lập các ưu đãi thuế, các chính sách hỗ trợ,... để giúp doanh nghiệp dễ dàng tham gia, từ đó đóng góp vào quá trình tăng trưởng của Việt Nam”.
“Trong suốt 34 năm Heineken có mặt tại thị trường Việt Nam, chúng tôi đã chứng kiến tinh thần doanh nhân mạnh mẽ của đất nước. Việt Nam không chỉ là một trong những thị trường chủ chốt của Tập đoàn, mà còn là điểm đến hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài khác.
Heineken đang nhìn thấy những cơ hội rất lớn để tiếp tục đầu tư, mở rộng công suất theo hướng bền vững, đồng thời thúc đẩy kế hoạch xuất khẩu từ Việt Nam. Việt Nam đang tạo ra môi trường đầu tư ngày càng ổn định, bền vững và thuận lợi, với nhiều lợi thế để thu hút dòng vốn đầu tư nước ngoài. Với tư cách là nhà đầu tư dài hạn, Heineken coi Việt Nam là một trong những điểm đến FDI hấp dẫn nhất trong khu vực.
Tuy nhiên, trong một môi trường đầu tư ổn định, việc thực thi chính sách cần bảo đảm tính tương xứng và hợp lý, ví dụ, tăng cường áp dụng công nghệ truy xuất nguồn gốc, thực thi nhất quán các tiêu chuẩn quốc tế,... Chính điều này cũng sẽ giúp người tiêu dùng Việt Nam được tiếp cận các sản phẩm an toàn, chất lượng cao.
Liên quan đến thuế tiêu thụ đặc biệt, chúng tôi đồng tình đây là công cụ chính sách quan trọng để bảo vệ sức khỏe cộng đồng và nâng cao nguồn thu ngân sách. Tuy nhiên, theo quan sát của chúng tôi từ kinh nghiệm tại nhiều quốc gia phát triển cho thấy, thuế tiêu thụ đặc biệt sẽ phát huy hiệu quả tốt nhất khi được xây dựng trên cơ sở đa yếu tố, nhất là cần dựa trên tình hình thực tiễn. Do đó, chúng tôi cũng kiến nghị Chính phủ theo đuổi lộ trình áp dụng từ từ, phù hợp với thông lệ quốc tế, nhằm đạt các mục tiêu về sức khỏe cộng đồng, đồng thời vẫn duy trì niềm tin của nhà đầu tư.
Về phát triển bền vững và chuyển đổi xanh, Heineken đã cam kết đảm bảo thực hiện trách nhiệm trong suốt nhiều năm hoạt động tại Việt Nam. Trên cơ sở đó, chúng tôi đề xuất hai khuyến nghị cụ thể.
Thứ nhất, về năng lượng tái tạo, chúng tôi hoan nghênh việc Việt Nam phê duyệt cơ chế Mua bán điện trực tiếp (DPPA) từ tháng 7/2024. Tuy nhiên, chúng tôi hy vọng sẽ sớm có thêm các quy định, hướng dẫn cụ thể, rõ ràng để hoạt động thỏa thuận mua bán được diễn ra thuận lợi.
Thứ hai, nâng cao hiệu quả sử dụng nước cũng là vấn đề quan trọng của phát triển kinh tế bền vững và kinh tế tuần hoàn. Với vị trí quan trọng của Việt Nam trong Tập đoàn, Heineken đã không ngừng cải thiện hiệu quả và tăng cường an ninh nguồn nước. Thực tế, các nhà máy tại Việt Nam hiện là những nhà máy có hiệu quả sử dụng nước cao nhất trong toàn hệ thống Heineken toàn cầu.
Doanh nghiệp cũng đã đầu tư vào công nghệ xử lý nước thải tiên tiến, đưa nước sau xử lý đạt tiêu chuẩn loại A, đồng thời đảm bảo tái sử dụng nước,… Tuy nhiên, nếu chưa có khung quy định rõ ràng để hỗ trợ, cho phép và khuyến khích tái sử dụng nước an toàn, thì cả doanh nghiệp và Việt Nam đều chưa thể khai thác hết lợi ích từ những khoản đầu tư này.
Tại châu Âu, tái sử dụng nước đã trở thành tiêu chuẩn, nhờ các khuôn khổ rõ ràng và chính sách hỗ trợ, doanh nghiệp trong khu vực đã tích cực tuân thủ yêu cầu tuần hoàn nước, từ đó góp phần bảo đảm an ninh nguồn nước và nâng cao hiệu quả sử dụng nước trong công nghiệp”.
“Với quy mô doanh thu hiện nay trên 1 triệu tỷ đồng, PVN đang đối diện với áp lực lớn trong việc duy trì đà tăng trưởng hai con số. Để giải quyết bài toán này, Tập đoàn xác định đổi mới công tác đầu tư là động lực then chốt, tập trung vào hai hướng chiến lược:
Thứ nhất, đầu tư tập trung theo mô hình trung tâm công nghiệp năng lượng theo hướng sinh thái, nhằm phát huy được quy mô đầu tư, tạo ra hiệu quả kinh doanh, cũng như phát huy chuỗi giá trị của ngành để tạo ra những tối ưu về mặt công nghệ, về dòng chảy năng lượng và các giá trị mới.
Thứ hai, mở rộng đầu tư ra nước ngoài theo hướng linh hoạt các hình thức đầu tư, đặc biệt là chú trọng vào hình thức M&A (mua bán - sáp nhập) để nhanh chóng hiện thực hóa doanh thu và tạo ra sự tăng trưởng nhanh nhưng bền vững.
Để thực hiện định hướng trên, PVN có hai kiến nghị:
Về quy hoạch, Chính phủ cần rà soát, định hướng đầu tư tập trung vào các cụm năng lượng lớn và tạo cơ chế đột phá cho các mô hình sinh thái. Điều này sẽ tạo tiền đề “làm mồi” thu hút các doanh nghiệp lớn và đối tác chiến lược tham gia các dự án quy mô, bền vững. Hiện, PVN đang tích cực phối hợp với một số địa phương về vấn đề này.
Về cơ chế, bên cạnh Luật số 68/2025/QH15 đã ban hành, cần sớm có các nghị định hướng dẫn theo hướng tăng cường phân cấp mạnh mẽ hơn cho doanh nghiệp nhà nước, cho chủ sở hữu, đại diện cơ quan chủ sở hữu cũng như Hội đồng thành viên của các tập đoàn nhà nước. Việc này giúp doanh nghiệp có thể quyết định mạnh mẽ hơn, nhanh chóng hơn để tận dụng các cơ hội đầu tư, đặc biệt là đầu tư ra nước ngoài, nhằm thúc đẩy phát triển nhanh và bền vững trong thời gian tới”.
“Việc xác định mô hình tăng trưởng mới dựa trên khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là định hướng chiến lược quan trọng mà Việt Nam cần kiên định thúc đẩy. Trong đó, chuyển đổi kép (chuyển đổi số và chuyển đổi xanh) chính là động lực then chốt cho sự phát triển kinh tế giai đoạn mới.
Trên tinh thần đó, tôi xin đề xuất ba kiến nghị cụ thể như sau:
Thứ nhất, về phát huy vai trò dẫn dắt của kinh tế tư nhân trong hạ tầng số và AI. Nghị quyết số 68-NQ/TW (tháng 5/2025) đã xác định rõ vai trò của kinh tế nhà nước và kinh tế tư nhân. Thực tế, khi Chiến lược phát triển AI được công bố ngày 11/09/2024, đã tạo ra một làn sóng mạnh mẽ trong cả nước về nhận thức và việc lấy AI làm chiến lược chuyển đổi. Khối tư nhân đã có sự chuẩn bị nền tảng từ hàng chục năm nay, nên khi công bố chiến lược đó, xã hội đã đón nhận ngay lập tức.
Tôi khẳng định trong lĩnh vực này, kinh tế tư nhân hoàn toàn có khả năng đóng vai trò dẫn dắt. Chính phủ cần tập trung đầu tư cho các doanh nghiệp đầu tàu; CMC sẵn sàng là một trong 5 doanh nghiệp dẫn dắt về AI. Đối với hạ tầng số và hạ tầng AI, Chính phủ hoàn toàn có thể tin tưởng vào năng lực đầu tư của khối tư nhân bên cạnh các doanh nghiệp nhà nước.
Thứ hai, về nâng cao năng lực cạnh tranh của chính sách kinh tế số. Qua khảo sát thực tế và xúc tiến đầu tư tại Singapore, nhận thấy chính sách kinh tế số của Việt Nam hiện chưa đủ sức cạnh tranh so với các nước trong khu vực như Singapore hay Thái Lan. Đây là lý do nhóm GAFA (4 công ty công nghệ toàn cầu) vẫn chưa chọn Việt Nam làm địa điểm đầu tư trọng điểm.
Tôi kiến nghị Chính phủ lập bảng so sánh chi tiết chính sách kinh tế số giữa Việt Nam với Singapore và Malaysia xem chúng ta có điểm gì khác biệt hoặc chưa bằng. Chúng ta phải xây dựng chính sách, ít nhất là cạnh tranh được, thậm chí phải tốt hơn các nước khác, thì mới có thể thu hút đầu tư.
Thứ ba, về mô hình Trung tâm Đổi mới sáng tạo và cơ chế giao nhiệm vụ. Hiện nay, khối tư nhân đang chiếm tỷ trọng lớn, đồng thời các viện nghiên cứu và trường đại học tư nhân cũng đang phát triển mạnh. CMC đang cùng Hà Nội, TP.Hồ Chí Minh và Đà Nẵng xây dựng Trung tâm Đổi mới sáng tạo theo mô hình kết hợp “3 nhà”: Doanh nghiệp tư nhân – Trường đại học – Nhà nước. Đây là mô hình chúng tôi học tập từ Singapore và Hàn Quốc, là những nơi có chính sách ưu đãi đặc biệt cho loại hình này.
Chúng tôi mong muốn Nhà nước tin tưởng giao nhiệm vụ. Ví dụ, Singapore dù diện tích nhỏ vẫn dành 200 ha cho đô thị khoa học, công nghệ đổi mới sáng tạo. Với quỹ đất tại TP. Hồ Chí Minh, Việt Nam hoàn toàn có thể xây dựng những đô thị quy mô hàng nghìn ha. Với tư cách là doanh nghiệp tư nhân, chúng tôi hoàn toàn có thể thực hiện được các nhiệm vụ này”.
“Với quy mô 46 tỷ USD và vị thế đứng thứ hai thế giới, ngành dệt may Việt Nam hiện khó có thể đạt mục tiêu tăng trưởng 10% nếu chỉ dựa vào mở rộng quy mô (tăng trưởng theo chiều rộng). Nguyên nhân là nhu cầu thế giới hiện chỉ tăng khoảng 3%, do đó dệt may Việt Nam tối đa cũng chỉ có thể tăng 3-5% theo hướng này.
Vì vậy, ngành đang chuyển hướng sang tăng trưởng theo chiều sâu, cụ thể là tăng thặng dư thương mại trên 10%. Năm nay, thặng dư xuất khẩu dự kiến đạt 22 tỷ USD; để đóng góp vào mục tiêu tăng trưởng chung 10%, con số này cần đạt trên 24 tỷ USD vào năm 2026.
Để hiện thực hóa mục tiêu trên, cần thực hiện đồng bộ hai nhóm giải pháp:
Thứ nhất, phải có chính sách mua nguyên vật liệu trong nước thuận lợi hơn so với nhập khẩu nguyên vật liệu. Hiện nay, việc nhập khẩu nguyên vật liệu thuận lợi hơn cho doanh nghiệp vì không phải đóng thuế VAT và các thủ tục xuất khẩu cũng rất dễ dàng. Trong khi đó, nếu muốn mua nguyên vật liệu trong nước thì doanh nghiệp phải ứng thuế VAT, thuế mua hàng, thủ tục khá phức tạp. Chính vì vậy, cần thiết kế chính sách thuế riêng biệt cho các mặt hàng mua trong nội địa để phục vụ xuất khẩu. Ví dụ, trong quá khứ Việt Nam đã có ưu tiên giảm thuế doanh thu 50% cho doanh nghiệp.
Thứ hai, để đóng góp trực tiếp vào tăng trưởng GDP thì doanh nghiệp phải tăng lương cho người lao động 10%. Điều này đòi hỏi doanh nghiệp sẽ phải chuyển đổi mô hình theo hướng tự động hóa để không tăng số lượng công nhân mà tăng năng suất lao động.
Vì vậy, chúng tôi kiến nghị, cần có cơ chế giảm trừ một phần thuế thu nhập doanh nghiệp đối với các đơn vị tăng lương trên 10% cho người lao động. Khi có những chính sách này thì các doanh nghiệp sử dụng lao động với số lượng lớn (thường là doanh nghiệp có kim ngạch xuất khẩu cao) có thể tăng cường mua nguyên phụ liệu nội địa và tăng lương cho người lao động. Nếu thặng dư xuất khẩu và tiền lương tăng trên 10%, thì ngành dệt may mới thực sự đóng góp hiệu quả vào tăng trưởng kinh tế đất nước”.
“VinaCapital đã đầu tư tại Việt Nam hơn 20 năm, với phần lớn các khoản đầu tư tập trung vào khu vực kinh tế tư nhân. Có hai trụ cột là yếu tố quan trọng để tạo ra đột phá tăng trưởng kinh tế mới, qua đó giúp Việt Nam hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai chữ số.
Thứ nhất, trụ cột quan trọng nhất là công nghệ, động lực cho đột phá tăng trưởng trong giai đoạn tới.
Thứ hai, Trung tâm Tài chính quốc tế (IFC), gắn với huy động thêm nguồn vốn cho phát triển.
Hai trụ cột này sẽ song hành và bổ trợ lẫn nhau, trở thành đồng tác nhân thúc đẩy nền kinh tế Việt Nam. Công nghệ sẽ đóng vai trò nâng cao năng suất và năng lực cạnh tranh của toàn bộ nền kinh tế, trong khi IFC sẽ giúp huy động dòng vốn toàn cầu dài hạn vào các lĩnh vực ưu tiên, đồng thời kết nối Việt Nam sâu hơn với hệ thống tài chính quốc tế.
Về công nghệ, Việt Nam cần xây dựng một mạng lưới hạ tầng thông minh, hướng tới một nền kinh tế công nghệ, trong đó hạ tầng AI phải được coi là nền tảng. Hiện nay, VinaCapital đang hợp tác với các nhà đầu tư đến từ UAE để triển khai một trung tâm dữ liệu AI quy mô lớn tại TP. Hồ Chí Minh. Bởi các trung tâm dữ liệu siêu quy mô (hyperscale) sẽ là nền móng để góp phần phát triển công nghệ và trung tâm tài chính.
Nếu Việt Nam làm chủ AI và hạ tầng điện toán đám mây, những lợi ích có được là rất lớn, từ giảm chi phí, nâng cao hiệu quả, năng lực đổi mới sáng tạo và khả năng cạnh tranh, cho tới tăng cường mức độ an toàn và an ninh. Đây cũng là nền tảng căn bản để hình thành trung tâm AI, tạo chất xúc tác phát triển cho các công nghệ khác.
Những điều này cũng kéo theo vấn đề tiếp theo là nguồn vốn. Hiện nay, nhiều ước tính cho rằng Việt Nam cần khoảng 300 – 400 tỷ USD mỗi năm để duy trì tốc độ tăng trưởng cao. Câu hỏi then chốt là: Nguồn vốn này sẽ đến từ đâu?
Chúng tôi cho rằng việc huy động nguồn vốn từ trong nước, nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp nội địa là rất quan trọng. Trong cuộc diện kiến với lãnh đạo nhà nước, chúng tôi cũng đã đề xuất xây dựng các quỹ phát triển để hỗ trợ trực tiếp các doanh nghiệp Việt Nam mở rộng và phát triển.
Tuy nhiên, do nguồn vốn trong nước chưa đáp ứng đủ nhu cầu, Việt Nam cần thu hút thêm dòng vốn quốc tế. Một thực tế bất lợi là chi phí vốn tại Việt Nam (bao gồm cả vốn vay và vốn chủ sở hữu) hiện đang cao gấp đôi so với Thái Lan và Malaysia. Đơn cử, để vay vốn mở rộng hoạt động, doanh nghiệp Việt Nam phải chịu lãi suất trung bình khoảng 8%, trong khi con số này tại hai quốc gia láng giềng chỉ bằng một nửa. Mức chi phí vốn đắt đỏ này tạo ra rào cản lớn, khiến doanh nghiệp Việt Nam bị thua thiệt trong cạnh tranh.
Vì vậy, cần “kéo giảm” chi phí vốn, cả vốn cổ phần lẫn vốn vay. Về vốn cổ phần, cần tăng cường hoạt động các quỹ nội địa, đa dạng hóa các sản phẩm tài chính, qua đó giảm chi phí vốn cho doanh nghiệp. Ở bình diện quốc tế, chúng tôi kỳ vọng IFC sẽ đóng vai trò then chốt, giúp đưa dòng vốn quốc tế vào Việt Nam cho phát triển hạ tầng và tài trợ các dự án quy mô lớn.
Thị trường IFC có hai trụ cột. Một là, thị trường tài chính truyền thống, nơi các ngân hàng quốc tế, các nhà quản lý tài sản cho vay và đầu tư vào các dự án tại Việt Nam.
Hai là, sàn giao dịch. Ở mảng này, chúng ta cần tạo ra một mô hình mà chưa nơi nào khác ở châu Á làm, vì Việt Nam không thể và cũng không nên cạnh tranh trực diện với Hồng Kông hay Singapore.
Do đó, chúng ta nên có sàn giao dịch hàng hóa để nông dân Việt Nam có thể bán trực tiếp ra thị trường quốc tế. Bên cạnh đó, tạo sàn giao dịch cho các loại tài sản mới, như tài sản số, cũng là hướng đi mới để Việt Nam có thêm “đường ống” hút ròng vốn từ nước ngoài”.
“Hiện nay, ngành bán lẻ tại Việt Nam mới chỉ đóng góp khoảng 13% vào GDP. Khi so sánh với Thái Lan – nơi ngành này chiếm tới 55-60% quy mô kinh tế, có thể thấy thị trường bán lẻ Việt Nam vẫn còn rất nhiều dư địa để phát triển.
Bên cạnh việc tuân thủ nghiêm ngặt các quy định địa phương và quy chuẩn an toàn, ngành bán lẻ còn đóng vai trò là một công cụ hiệu quả để nâng cao chất lượng đời sống và xã hội của một quốc gia. Đây là môi trường mang lại cơ hội thăng tiến rộng mở cho người lao động; một nhân viên thu ngân, nếu làm việc chăm chỉ và quyết tâm, hoàn toàn có thể vươn lên trở thành CEO của doanh nghiệp trong tương lai.
Tuy nhiên, rào cản lớn nhất mà các doanh nghiệp như Central Retail gặp phải tại Việt Nam là khó khăn trong việc mua bất động sản phục vụ hoạt động kinh doanh. Quá trình này diễn ra rất phức tạp do nhiều nguyên nhân, chủ yếu xuất phát từ khả năng tiếp cận đất phục vụ mục đích thương mại. Mặc dù, Việt Nam sở hữu quỹ đất nông nghiệp và công nghiệp dồi dào, nhưng thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng sang đất thương mại dịch vụ lại là một quá trình "dài hơi", thường kéo dài hàng tháng đến hàng năm.
Central Retail kỳ vọng chính quyền các địa phương sẽ chủ động hơn trong việc thay đổi và điều chỉnh quy hoạch tổng thể. Việc xúc tiến các dự án bán lẻ không chỉ mang lại lợi ích cho nhà vận hành, mà còn tạo ra doanh thu và công việc cho các doanh nghiệp xây dựng, phát triển bất động sản.
Một thách thức quan trọng khác đối với doanh nghiệp bán lẻ nói chung và doanh nghiệp bán lẻ nước ngoài tại Việt Nam nói riêng, là quy trình xin giấy phép khi mở thêm các cơ sở kinh doanh bán lẻ. Việc tạo cơ chế công bằng, xếp doanh nghiệp bán lẻ nước ngoài tương đương với các nhà bán lẻ nội địa trong quá trình xin giấy phép sẽ là động lực lớn để hỗ trợ các khoản đầu tư.
Về kế hoạch phát triển, Central Retail dự kiến đầu tư khoảng 1,5 tỷ USD vào Việt Nam trong vòng 5 năm tới. Doanh nghiệp mong muốn và sẵn sàng đầu tư nhiều hơn thế, nhưng nếu không có quỹ đất để xây dựng cơ sở và phải chờ đợi giấy phép trong thời gian quá dài, việc hiện thực hóa các khoản đầu tư này tại Việt Nam sẽ gặp rất nhiều trở ngại”.
“Việt Nam có cơ hội để đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai chữ số trong giai đoạn tới. Chúng tôi đề xuất mười khuyến nghị cụ thể, chia thành hai nhóm chiến lược.
Nhóm thứ nhất, tập trung vào việc nắm bắt động lực và mở khóa các cơ hội ngay lập tức trong nước và toàn cầu, bao gồm sáu hành động ưu tiên để tăng tốc tăng trưởng trong ngắn hạn.
Một, nâng cấp Cục Đầu tư nước ngoài (FIA), cả ở cấp trung ương và địa phương, để thu hút FDI chất lượng cao hơn. Việt Nam đang hưởng lợi từ sự chuyển hướng lớn của thương mại và chuỗi cung ứng toàn cầu. Để tận dụng điều này một cách đầy đủ, một “FIA 2.0” trung ương có thể tăng cường chuyên môn theo ngành phù hợp với các ngành công nghệ mới và đảm nhận một nhiệm vụ mở rộng, bao gồm quản lý cấp phát ưu đãi. Ở cấp địa phương, các tỉnh và thành phố có thể thành lập các đơn vị FIA chịu trách nhiệm chăm sóc nhà đầu tư và hỗ trợ toàn diện.
Hai, mở rộng và phối hợp một mạng lưới Đặc khu rộng lớn hơn, bao gồm các khu vực thương mại tự do, trung tâm tài chính quốc tế và khu kinh tế tự do. Những khu vực này có thể trở thành chất xúc tác mạnh mẽ, cung cấp các ưu đãi cạnh tranh, quy trình hành chính liền mạch và quy mô đủ lớn để cạnh tranh khu vực và toàn cầu.
Ba, củng cố các tổ chức xuất khẩu và cơ chế ưu đãi của Việt Nam. Điều này bao gồm nâng cấp và có thể hợp nhất Cơ quan Xúc tiến Thương mại Việt Nam thành một mô hình tương tự như Cơ quan Xúc tiến Thương mại và Đầu tư Hàn Quốc (KOTRA). Các ưu đãi bổ sung có thể đơn giản hóa thủ tục hải quan, logistics và tài chính xuyên biên giới. Trao quyền cho các ngân hàng Việt Nam với các công cụ tương tự sẽ giúp các doanh nghiệp trong nước mở rộng ra toàn cầu.
Bốn, khởi động các chương trình quốc gia để mở rộng nền kinh tế trong nước, hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ và vừa thông qua các yếu tố hỗ trợ có mục tiêu và nuôi dưỡng các doanh nghiệp hàng đầu quốc gia, có thể tạo ra hiệu ứng lan tỏa trong hệ sinh thái của họ.
Năm, tăng tốc thực hiện các cơ sở hạ tầng quan trọng trong giao thông và năng lượng.
Sáu, đảm bảo tiếp cận tài chính đủ và ổn định, huy động vốn trong nước, ngân sách chính phủ và các tổ chức tài chính quốc tế như những công cụ chính.
Nhóm thứ hai, tập trung vào những khoản đầu tư lớn, xây dựng nền tảng cho 3 đến 10 năm tới, bao gồm bốn ưu tiên hành động.
Bảy, phát triển ba đến bốn lĩnh vực mới có khả năng cạnh tranh toàn cầu, có thể trở thành động lực tăng trưởng tiếp theo của Việt Nam như điện tử và bán dẫn, nông nghiệp, dịch vụ số và kinh tế xanh.
Tám, chuyển đổi sang nền kinh tế dựa trên đổi mới và công nghệ, trở thành nền kinh tế ưu tiên số hóa và trí tuệ nhân tạo (AI).
Chín, xây dựng lực lượng lao động STEM. Đây là một trong những lợi thế cạnh tranh dài hạn quan trọng nhất mà Việt Nam có thể tạo ra và là yếu tố thiết yếu cho sự thành công trong tất cả các ngành công nghiệp tương lai.
Mười, về việc thực thi. Hiện nay, Việt Nam có hơn 40 ủy ban quốc gia và nhiều luật mới, phản ánh định hướng chính sách rõ ràng. Làm thế nào để thực thi nhanh chóng, trên quy mô lớn và sử dụng nguồn lực hiệu quả. Chúng tôi khuyến nghị xem xét cấu trúc thực thi ba cấp đơn giản: cấp cao nhất là Ủy ban Quốc gia; cấp dưới là một tập hợp các ủy ban quốc gia được thu gọn, có thể sáp nhập các cơ quan chỉ đạo hiện có; cấp dưới nữa là một tập hợp các chương trình hoặc dự án, mỗi chương trình hoặc dự án có một người lãnh đạo được chỉ định, các nhóm liên bộ, mục tiêu rõ ràng và thời hạn xác định”.
“Với vai trò là đơn vị đang hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp, chúng tôi đã từ đơn vị cơ khí sản xuất nhỏ trở thành doanh nghiệp chế tạo sản xuất được các sản phẩm cơ khí, công nghiệp nặng chủ lực như: đóng và sửa chữa tàu biển, đóng mới các giàn khoan, module, cẩu cảng, các công trình điện gió ngoài khơi; sản xuất chế tạo các thiết bị hàng không, cẩu phục vụ cảng biển, thiết bị khuôn mẫu, thiết bị cho ngành giao thông, khai khoáng điện năng lượng; sản xuất chế tạo các thiết bị phục vụ năng lượng tái tạo, điện gió, điện mặt trời, hydro; thi công các công trình xây dựng nhà máy lọc hóa dầu, giao thông metro, cao tốc, sân bay, bến cảng, sân vận động, bảo tàng, công trình kiến trúc, nhà máy điện nguyên tử, lọc hóa dầu.
Chúng tôi đã và đang và sẽ cam kết: tăng vai trò nội địa hóa nhằm tăng giá trị gia tăng 50 – 60 – 70 – 80% theo giai đoạn; dẫn dắt các doanh nghiệp vừa và nhỏ sản xuất công nghiệp phụ trợ như chế tạo máy – gia công cơ khí – sản xuất nguyên liệu – dịch vụ logistic tạo ra hệ sinh thái tuần hoàn; tăng vai trò chủ động làm chủ công nghệ - đồng bộ dữ liệu nhằm giảm chi phí, tăng năng lực cạnh tranh; phục vụ giảm chi phí đầu tư cho các dự án trong nước – thời gian giảm; xây dựng thương hiệu Việt Nam trên trường quốc tế, xuất khẩu sản phẩm hội nhập sâu vào nền kinh tế.
Chúng tôi có 5 đề xuất với Chính phủ và Ban Chính sách, chiến lược Trung ương.
Một là, hỗ trợ các doanh nghiệp dẫn dắt tiên phong phát triển kéo theo hệ sinh thái doanh nghiệp phụ trợ có các khu công nghiệp – khu cảng chuyên dụng phục vụ sản xuất và xuất khẩu.
Hai là, các dự án đầu tư của Chính phủ cần quy định rõ tỷ lệ phần trăm nội địa hóa để doanh nghiệp trong nước có cơ hội phát triển.
Ba là, có các chính sách thương mại, hàng rào kỹ thuật bảo vệ các doanh nghiệp trong nước để giữ thị trường cho các doanh nghiệp trong nước phát triển và bắt kịp.
Bốn là, giảm và bỏ những điều kiện không cần thiết trong đấu thầu cho doanh nghiệp trong nước.
Năm là, xây dựng đề án cụ thể, có thông tư nghị định, luật đấu thầu để hướng dẫn cơ quan chủ quản mới thực thi được”.
Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 51-52-2025 phát hành ngày 22-29/12/2025. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
Link: https://vneconomy.vn/don-doc-tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-5152-2025.htm
Thuế đối ứng của Mỹ có ảnh hướng thế nào đến chứng khoán?
Chính sách thuế quan mới của Mỹ, đặc biệt với mức thuế đối ứng 20% áp dụng từ ngày 7/8/2025 (giảm từ 46% sau đàm phán), có tác động đáng kể đến kinh tế Việt Nam do sự phụ thuộc lớn vào xuất khẩu sang Mỹ (chiếm ~30% kim ngạch xuất khẩu). Dưới đây là phân tích ngắn gọn về các ảnh hưởng chính: