VnEconomy
VnEconomy

Ông có thể đánh giá tổng quan về kết quả nổi bật mà ngành thủy sản Việt Nam đã đạt được và định hướng chiến lược của ngành trong thời gian tới?

Ngành thủy sản Việt Nam đang ghi nhận những kết quả ấn tượng cả về sản lượng và giá trị xuất khẩu. Năm 2025, tổng sản lượng thủy sản đạt gần 10 triệu tấn, với kim ngạch xuất khẩu khoảng 11,3 tỷ USD, đưa Việt Nam vươn lên vị trí thứ tư thế giới về sản lượng và đứng thứ ba về giá trị xuất khẩu.

Đà tăng trưởng tiếp tục được duy trì trong quý 1/2026, khi sản lượng thu hoạch đạt 2,184 triệu tấn, tăng 3,2% so với cùng kỳ năm 2025; trong đó cá đạt 1,6219 triệu tấn (tăng 2,8%) và tôm đạt 229,8 nghìn tấn (tăng 6,2%). Kim ngạch xuất khẩu thủy sản trong quý 1/2026 đạt 2,64 tỷ USD, tăng gần 8% so với cùng kỳ năm trước.

Các nhóm sản phẩm thủy sản chủ lực tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam, trong đó: tôm giữ vị trí dẫn đầu với kim ngạch khoảng 4,6 tỷ USD mỗi năm, khẳng định lợi thế cạnh tranh trên thị trường quốc tế; cá tra với giá trị xuất khẩu xấp xỉ 2 tỷ USD/năm, góp phần duy trì vị thế của Việt Nam trong phân khúc thủy sản nước ngọt. Bên cạnh đó, khai thác biển mang lại nguồn thu đáng kể, ước đạt từ 3,5 đến 3,7 tỷ USD mỗi năm. Đáng chú ý, nuôi biển được đánh giá là lĩnh vực còn nhiều dư địa phát triển, trở thành động lực tăng trưởng mới cho toàn ngành trong thời gian tới.

Không chỉ đóng góp lớn cho tăng trưởng kinh tế, ngành thủy sản hiện còn tạo sinh kế cho hơn 4 triệu lao động, giữ vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế biển và góp phần bảo đảm chủ quyền quốc gia trên biển.

Về định hướng dài hạn, ngành đặt mục tiêu đến năm 2030 đạt sản lượng 9,8 triệu tấn, kim ngạch xuất khẩu từ 14-16 tỷ USD. Để duy trì sản lượng hải sản, trong bối cảnh sẽ phải giảm đánh bắt trên biển, chúng ta phải phát triển nuôi biển trở thành ngành công nghiệp quy mô lớn. Tầm nhìn đến năm 2045, thủy sản tiếp tục là ngành kinh tế mũi nhọn, đưa Việt Nam trở thành trung tâm chế biến thủy sản sâu, nằm trong nhóm ba quốc gia hàng đầu thế giới.

VnEconomy

Theo ông, những thách thức lớn nhất mà ngành thủy sản Việt Nam đang đối mặt hiện nay là gì?

Ngành thủy sản Việt Nam hiện đang đối mặt với nhiều vấn đề lớn cần được giải quyết đồng bộ nhằm hướng tới phát triển bền vững. Trong lĩnh vực giống, đặc biệt là giống tôm, sự phụ thuộc vào nguồn nhập khẩu vẫn còn cao, trong khi công nghệ chọn giống trong nước còn chậm phát triển.

Đối với nuôi biển, hoạt động hiện nay chủ yếu diễn ra ở khu vực gần bờ, dẫn đến nguy cơ ô nhiễm môi trường và hiệu quả kinh tế chưa cao. Trong khi các quốc gia như Na Uy và Trung Quốc đã phát triển các mô hình nuôi biển công nghiệp quy mô lớn, hiện đại, thì Việt Nam vẫn còn tình trạng sản xuất nhỏ lẻ, manh mún.

Trong khai thác thủy sản, đội tàu còn nhỏ, công nghệ bảo quản lạc hậu khiến tổn thất sau thu hoạch ở mức cao, từ 15-40%. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải hiện đại hóa đội tàu, cải tiến công nghệ bảo quản, đồng thời giảm cường lực khai thác và khuyến khích doanh nghiệp đầu tư quy mô lớn. Bên cạnh đó, các vấn đề về môi trường như ô nhiễm vùng nuôi ven bờ và dịch bệnh gia tăng cũng đang là thách thức, đòi hỏi phải phát triển nuôi xa bờ gắn với công nghệ xử lý môi trường hiệu quả.

VnEconomy

Vậy, ông cho biết đâu là giải pháp khoa học và công nghệ trọng tâm để phát triển bền vững ngành thủy sản?

Trong giai đoạn 2021-2025, lĩnh vực thủy sản và kiểm ngư đã triển khai 113 nhiệm vụ khoa học và công nghệ, trong đó 60 nhiệm vụ đã được nghiệm thu, mang lại nhiều kết quả thiết thực cho sản xuất. Đáng chú ý, công tác nghiên cứu và sản xuất giống đã giúp ngành chủ động hơn 80% nguồn cung con giống thủy sản chủ lực, với trên 95% đạt tiêu chuẩn sạch bệnh. Cùng với đó, các quy trình công nghệ về nuôi trồng, chế phẩm sinh học, xử lý môi trường, phòng trị bệnh, khai thác và bảo quản đã được ứng dụng rộng rãi, chiếm khoảng 90% diện tích và sản lượng, góp phần duy trì tốc độ tăng trưởng ổn định của ngành ở mức 4-5% mỗi năm.

Khoa học công nghệ được đánh giá là yếu tố then chốt thúc đẩy sự phát triển của ngành thủy sản trong thời gian qua, đặc biệt đối với cá tra. Sau hơn 25 năm phát triển, ngành cá tra đã hình thành chuỗi sản xuất tương đối hoàn chỉnh, từ con giống, thức ăn, dinh dưỡng, quy trình nuôi, an toàn sinh học, vaccine, thu hoạch đến chế biến và xuất khẩu, bao gồm cả các sản phẩm giá trị gia tăng.

Tuy nhiên, thực tế cho thấy các đề tài nghiên cứu hiện nay vẫn chủ yếu tập trung vào các giải pháp kỹ thuật đơn lẻ như nâng cao tỷ lệ sống, cải tiến thức ăn giai đoạn đầu hay tối ưu quy trình nuôi, trong khi yêu cầu đặt ra là phải chuyển sang nghiên cứu theo chuỗi giá trị, mang tính liên ngành và liên lĩnh vực.

Trong lĩnh vực nuôi biển, các kỹ thuật và mô hình sản xuất hiện nay tại Việt Nam chủ yếu tập trung vào hai đối tượng chính là cá chim và cá nhụ. Đây được xem là những đối tượng nuôi tiềm năng, cần tiếp tục hoàn thiện quy trình kỹ thuật trong thời gian tới nhằm nâng cao hiệu quả, tạo ra sản lượng ổn định với quy mô lớn phục vụ xuất khẩu.

Với giá trị kinh tế cao và nhu cầu tiêu thụ rộng, đặc biệt tại các thị trường như Trung Quốc, Đài Loan và Singapore, cá chim và cá nhụ được kỳ vọng sẽ trở thành những sản phẩm chủ lực, góp phần thúc đẩy phát triển nuôi biển theo hướng công nghiệp và bền vững.

Bên cạnh đó, lĩnh vực tiềm năng như rong biển - một ngành công nghiệp lớn trên thế giới trong các lĩnh vực thực phẩm và mỹ phẩm, nhưng tại Việt Nam vẫn chưa được khai thác hiệu quả do hạn chế về vùng nguyên liệu. Các đối tượng nuôi mới như cá chim vây vàng, cá cam cũng đang trong giai đoạn khởi động, song được đánh giá có tiềm năng lớn nhờ nhu cầu cao từ các thị trường như Nhật Bản và Trung Quốc.

Trong giai đoạn tới, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo được xác định là động lực then chốt thúc đẩy ngành thủy sản phát triển bền vững. Trọng tâm sẽ là nghiên cứu, phát triển các giống thủy sản chủ lực theo hướng sạch bệnh, sinh trưởng nhanh và thích ứng tốt với điều kiện nuôi. Đồng thời, ngành sẽ đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cao, công nghệ sinh học và công nghệ số vào toàn bộ chuỗi sản xuất, từng bước hình thành các mô hình nuôi trồng thủy sản thông minh.

Đáng chú ý, ngành thủy sản sẽ hướng tới phát triển theo mô hình kinh tế tuần hoàn và kinh tế xanh, góp phần bảo vệ môi trường, sử dụng hiệu quả tài nguyên và nâng cao giá trị gia tăng cho sản phẩm.

Về cơ chế, ngành cần thúc đẩy tự chủ thực chất trong khoa học và công nghệ, thông qua việc giao quyền đi đôi với trách nhiệm, kiểm soát theo hiệu quả đầu ra và cho phép thương mại hóa các sản phẩm nghiên cứu.

VnEconomy
Asko AI Platform

Askonomy AI

...

icon

Thuế đối ứng của Mỹ có ảnh hướng thế nào đến chứng khoán?

Chính sách thuế quan mới của Mỹ, đặc biệt với mức thuế đối ứng 20% áp dụng từ ngày 7/8/2025 (giảm từ 46% sau đàm phán), có tác động đáng kể đến kinh tế Việt Nam do sự phụ thuộc lớn vào xuất khẩu sang Mỹ (chiếm ~30% kim ngạch xuất khẩu). Dưới đây là phân tích ngắn gọn về các ảnh hưởng chính:

VnEconomy