VnEconomy
VnEconomy
VnEconomy

"CGIAR là tập hợp của rất nhiều tổ chức, trong đó có những tổ chức đã hợp tác nghiên cứu khoa học với chúng tôi từ rất lâu. Đơn cử như, Viện Nghiên cứu lúa quốc tế (IRRI) đã hợp tác với VAAS bắt đầu từ những năm 1970. IRRI có nguồn gen giống lúa rất lớn, trở thành đối tác để trao đổi quỹ gen. Tính đến nay, Việt Nam đã cung cấp hơn 3.900 loại lúa cho ngân hàng gen lúa quốc tế của IRRI. IRRI cũng đã cung cấp hơn 2.700 mẫu gen lúa để các viện thành viên của VAAS sử dụng làm vật liệu nghiên cứu và lai tạo giống mới. Ngoài ra, khoảng 100 dòng lúa của IRRI đã được công nhận là giống xác nhận tại Việt Nam.

IRRI đã hợp tác với Viện Lúa Đồng bằng sông Cửu Long tạo ra nhiều giống lúa chịu hạn, chịu mặn. Cùng với đó là giải pháp điều chỉnh cơ cấu mùa vụ, kỹ thuật canh tác cho sản xuất né hạn, né mặn. Theo dự báo về tác động của biến đổi khí hậu đến sản xuất lúa vùng Đồng bằng sông Cửu Long, các tổ chức quốc tế đã nghiên cứu và đánh giá rằng năm 2020 thiệt hại rất nghiêm trọng. Nhưng nhờ các giải pháp về mùa vụ, sử dụng giống ngắn ngày để né mặn, chúng ta ít bị thiệt hại, số liệu về sản lượng và năng suất thực tế cao hơn rất nhiều so với dự báo của quốc tế. Đấy là minh chứng cho kết quả hợp tác nghiên cứu khoa học nông nghiệp giữa VAAS và các viện thuộc CGIAR.

IRRI cũng hỗ trợ kỹ thuật để hỗ trợ chuyển đổi ngành lúa gạo trở nên bền vững. Bằng những công cụ thân thiện với người dùng để tính toán phát thải khí nhà kính từ sản xuất lúa gạo, cho phép tùy chỉnh các gói canh tác khác nhau cho các mùa vụ khác nhau và tính toán dấu chân carbon cho toàn bộ chuỗi giá trị từ sản xuất đến chế biến và bao gồm thất thoát. Một trong những sản phẩm khoa học rất tiêu biểu từ hợp tác này có tính ứng dụng rất tốt là hệ thống bản đồ thông minh thích ứng với biến đổi khí hậu vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

CGIAR cũng giúp đào tạo cho các viện nghiên cứu khoa học nông nghiệp ở Việt Nam về kỹ năng nghiên cứu, những kỹ thuật về lai tạo giống lúa, về phương pháp đo đếm phát thải khí nhà kính, thiết lập bản đồ viễn thám… Trong lai giống, những công nghệ sinh học được các thành viên và đối tác của CGIAR chuyển giao đã hỗ trợ cho công tác chọn tạo, lai giống để rút ngắn thời gian cho ra giống mới"

VnEconomy

"Tại Việt Nam, trong 5 năm qua, nghiên cứu chăn nuôi của chúng tôi đã tiếp cận trực tiếp 5.000 tác nhân trong chuỗi giá trị quy mô vừa và nhỏ, gián tiếp 100.000 người thuộc các nhóm khác nhau: nông dân, cơ sở giết mổ, người bán lẻ, chính quyền địa phương và cộng đồng.

Trong hợp phần về sức khỏe vật nuôi, ILRI và các đối tác nghiên cứu hai bệnh quan trọng ở lợn là bệnh dịch tả lợn châu Phi (ASF) và bệnh tai xanh. Dịch tả lợn châu Phi đã dẫn đến sự sụt giảm nghiêm trọng về giá trị lợn, làm giảm 20% tổng đàn lợn của Việt Nam vào năm 2020. ILRI phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã nghiên cứu về các yếu tố nguy cơ, đường lây truyền của ASF và xây dựng các kịch bản để kiểm soát dịch bệnh hiệu quả hơn.

Một hoạt động khác là dự án Li Chăn (trong tiếng Thái Nghĩa là tốt đẹp, một dự án do nhiều trung tâm thuộc CGIAR cùng triển khai, tại nhiều quốc gia khác nhau). Tại Việt Nam, Dự án Li-chăn đã giúp chuyển đổi hệ thống (sinh kế, môi trường, công bằng và tiếp cận thị trường) để trao quyền cho các cộng đồng nông dân vùng cao thông qua các biện pháp can thiệp tổng hợp dựa vào chăn nuôi ở Tây Bắc.

ILRI tại Việt Nam cũng đã tích cực tham gia vào Đối tác Một sức khỏe Việt Nam (do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì). Các nghiên cứu về an toàn thực phẩm của ILRI tập trung vào thực phẩm có nguồn gốc động vật, chủ yếu là thịt lợn, đóng góp tới 60% lượng protein có nguồn gốc động vật. Nghiên cứu về an toàn thực phẩm của ILRI do Trung tâm nghiên cứu Nông nghiệp Quốc tế Úc (ACIAR) và BMZ Đức tài trợ đã được thực hiện tại Hà Nội, Hưng Yên, Hòa Bình, Thái Nguyên, Nghệ An. Trong khi các nghiên cứu trước đây thường tập trung vào sự hiện diện của các mối nguy (ví dụ như Salmonella), lần đầu tiên các nghiên cứu của chúng tôi ước tính gánh nặng bệnh tật do bệnh sinh ra từ thực phẩm (Salmonella trong thịt lợn) cũng như chi phí nằm viện liên quan, khoảng 200 triệu USD/năm. Dựa trên các kết quả nghiên cứu, ILRI và các đối tác đã phát triển và thử nghiệm các biện pháp can thiệp chi phí thấp thành công tại cơ sở giết mổ và bán lẻ. Can thiệp bao gồm cung cấp thiết bị nhỏ, tập huấn nâng cao năng lực đi kèm với các biện pháp khuyến khích. Các hoạt động này sẽ bổ sung và hỗ trợ các luật về an toàn thực phẩm, thú y và chăn nuôi hiện hành ở Việt Nam nhằm thực hiện và giúp các bên tham gia chuỗi giá trị chăn nuôi tuân thủ tốt hơn. Chúng tôi cũng thực hiện nghiên cứu về các bệnh lây truyền từ động vật sang người như bệnh dại, bệnh giun xoắn, bệnh sán dây lợn hay các bệnh do muỗi truyền, và nghiên cứu về kháng kháng sinh trong chăn nuôi".

VnEconomy

VnEconomy

"Trong gần 30 năm qua, CIAT đã thực hiện các nghiên cứu thích ứng nhằm cung cấp giải pháp cho các hộ chăn nuôi quy mô nhỏ ở Đông Nam Á. Chăn nuôi bò sữa và bò thịt ở Việt Nam đang có nhiều dư địa phát triển, bởi nguồn cung còn quá thấp so với nhu cầu. Tuy nhiên, trở ngại cho chăn nuôi bò chính ở Việt Nam chính là thiếu thức ăn thô xanh. Những năm qua, các giống cỏ dùng làm thức ăn gia súc được sản xuất, giới thiệu bởi các chương trình nhân giống cây trồng của CIAT, thích nghi tốt với đất nghèo dinh dưỡng, trong điều kiện khô hạn kéo dài, cung cấp nhiều dưỡng chất và cho năng suất cao. Đến nay, hơn 500 loài cây làm thức ăn thô xanh đã được kiểm chứng được đông đảo nông dân nhân rộng trồng cấy. Các chương trình khuyến nông của Chính phủ cũng đã đưa những loại cỏ này vào kế hoạch tiếp tục nghiên cứu và phổ biến kết quả ở cấp quốc gia. Điều này có nghĩa là so với đồng cỏ tự nhiên, các loại thức ăn này sẽ giúp người nông dân cải thiện chăn nuôi cả về số lượng và chất lượng và duy trì ổn định lượng thức ăn quanh năm cho chăn nuôi trâu, bò, dê, cừu…  Ngoài ra, các loài cây thức ăn thô xanh này đóng góp rất nhiều vào quá trình phát triển sinh thái học nông nghiệp thông qua việc cải thiện các đặc tính của đất và bảo tồn đất, cải thiện khả năng tái chế dưỡng chất trong đất, thích ứng biến đổi khí hậu, đóng góp vào chiến lược giảm thiểu phát thải khí nhà kính và bảo tồn đa dạng sinh học".

VnEconomy

"ACIAR đã duy trì hợp tác nghiên cứu với Việt Nam trong 28 năm qua. Chúng tôi đã đầu tư 126 triệu đôla Australia (AUD) thông qua hơn 200 dự án tại Việt Nam. ACIAR và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam đã xây dựng chiến lược hợp tác nghiên cứu giữa Việt Nam và Australia giai đoạn 2017-2027. Giờ đây, đã không còn là quan hệ giữa nhà tài trợ và bên nhận tài trợ, mà chúng tôi đã phát triển thành mối quan hệ đối tác, đồng đầu tư, và trong giai đoạn tiếp theo có thể phát triển thành hợp tác ba bên. Bản chiến lược 10 năm đã khẳng định mong muốn của cả hai bên sẽ đồng tài trợ 75% tổng số dự án và huy động sự tham gia của khu vực tư nhân để tạo cơ hội cho người dân nghèo ở khu vực nông thôn và thành thị thông qua các hệ thống kinh doanh nông nghiệp công bằng và có sự tham gia.

Về mối quan hệ hợp tác với CGIAR, tại Việt Nam từ 2016 - 2021, ACIAR đã đầu tư vào 14 dự án nghiên cứu do các trung tâm của CGIAR chủ trì thực hiện, với tổng giá trị gần 18 triệu AUD. Chúng tôi tính toán trong 5 thập kỷ qua, bình quân mỗi đồng đôla đầu tư cho CGIAR đã tạo ra các lợi ích trị giá cho nông dân trên toàn cầu cao gấp 10 lần. Nhiều trung tâm nghiên cứu CGIAR là đối tác lâu dài và hiệu quả của ACIAR tại Việt Nam".

VnEconomy

"Tại Việt Nam, FAO đã và đang tập trung vào bốn lĩnh vực chính nhằm góp phần xóa đói giảm nghèo. Một là, tăng cường an ninh lương thực tập trung vào xóa đói, suy dinh dưỡng và các mối quan tâm về an toàn thực phẩm. Hai là, phát triển bền vững các ngành nông nghiệp (bao gồm cả nông nghiệp, chăn nuôi, thủy sản và lâm nghiệp), đóng góp vào tăng trưởng xanh quốc gia và các chiến lược khác về cải thiện quản lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường. Ba là, phát triển nông thôn mới và giảm nghèo bền vững. Bốn là, tăng cường khả năng chống chịu của cộng đồng trước các thiên tai và các mối đe dọa.

Hệ thống Liên hợp quốc tại Việt Nam đã đặt ra mục tiêu đến năm 2026, người dân ở Việt Nam, đặc biệt là những người có nguy cơ bị bỏ lại phía sau, sẽ thoát nghèo tốt hơn ở mọi khía cạnh và sẽ được trao quyền để vươn lên, phát huy các tiềm năng của mình.

Là một phần của hệ thống Liên hợp quốc, FAO sẽ hỗ trợ Chính phủ Việt Nam thực hiện cách tiếp cận Một sức khỏe để cải thiện việc kiểm soát và ngăn ngừa các bệnh lây truyền từ động vật sang người, giảm sử dụng thuốc trừ sâu, giảm tình trạng kháng thuốc kháng sinh, cải thiện an toàn thực phẩm và nguy cơ đại dịch. Hỗ trợ các giải pháp thích ứng với biến đổi khí hậu, giảm nhẹ rủi ro thiên tai, tăng cường khả năng phục hồi và quản lý bền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên. Cùng với đó là chuyển đổi hệ thống thực phẩm theo hướng sản xuất và tiêu dùng an toàn, lành mạnh và bền vững, nhằm nâng cao khả năng chi trả và khả năng tiếp cận bình đẳng cho tất cả mọi người".

VnEconomy

"WB đã làm việc với nhiều trung tâm CGIAR, đặc biệt là Viện Nghiên cứu Lúa gạo quốc tế (IRRI) và Viện Nghiên cứu Chăn nuôi quốc tế (ILRI). Thông qua hợp tác với IRRI, chúng tôi đã phối hợp thúc đẩy các thực hành sản xuất lúa bền vững tại Đồng bằng sông Cửu Long trong khuôn khổ dự án Chuyển đổi nông nghiệp bền vững tại Việt Nam (VNSAT). IRRI đã và đang cung cấp hỗ trợ kỹ thuật giúp nông dân áp dụng sản xuất lúa gạo bền vững.

Qua hợp tác với ILRI, chúng tôi đã gặt hái được nhiều hiểu biết kỹ thuật trong quản lý chăn nuôi cũng như an toàn thực phẩm, qua đó giúp chúng tôi thiết kế dự án Năng lực cạnh tranh chăn nuôi và an toàn thực phẩm, thực hiện từ năm 2009 đến năm 2019.

Thế mạnh rõ nét của các trung tâm CGIAR là kỹ thuật chuyên sâu về các vấn đề phát triển thông qua các chương trình nghiên cứu kỹ chất lượng cao. Tại Việt Nam, các thiết kế kỹ thuật cho hai dự án của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn do WB tài trợ mà tôi đã đề cập trước đó đã được hưởng lợi một phần từ những hiểu biết và hướng dẫn kỹ thuật do ILRI và IRRI cung cấp. Thông qua các nghiên cứu, các tổ chức này đã cung cấp bằng chứng và phân tích khoa học cho những cải cách chính sách quan trọng thúc đẩy thực hành sản xuất lúa gạo và quản lý chăn nuôi bền vững".

VnEconomy

VnEconomy 06/12/2021 14:05

Cà phê Việt Nam phải thoát thế bán thô, định hình cuộc chơi

Việt Nam đang giữ vị thế hàng đầu thế giới về sản xuất và xuất khẩu cà phê Robusta, nhưng lợi thế về sản lượng chưa chuyển hóa tương xứng thành quyền lực và giá trị trong chuỗi toàn cầu. Muốn thoát khỏi vị thế chủ yếu cung cấp nguyên liệu, ngành cà phê phải tăng liên kết, minh bạch dữ liệu, nâng chuẩn chất lượng, phát triển chế biến sâu và xây dựng thương hiệu để từng bước tham gia định hình cuộc chơi.

Đồng hồ thông minh nền tảng của cách mạng công nghệ thiết bị đeo

Thị trường đang được thúc đẩy bởi những tiến bộ công nghệ và nhận thức ngày càng cao của người tiêu dùng về sức khỏe và thể chất. Khi ngành công nghiệp này tiếp tục đổi mới, đồng hồ thông minh được kỳ vọng sẽ đóng vai trò then chốt trong việc định hình tương lai của công nghệ thiết bị đeo...

Nắm bắt nhu cầu nhà ở thực tế để giữ nhân lực chất lượng cao

Để làm rõ vấn đề này, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy giới thiệu ý kiến của đại diện cơ quan quản lý, chuyên gia và doanh nghiệp về thực trạng, triển vọng nhu cầu nhà ở của người nước ngoài tại Việt Nam; những vướng mắc trong quá trình thực thi chính sách; đồng thời đề xuất giải pháp phát triển nguồn cung phù hợp, minh bạch hóa thông tin và tăng cường kết nối cung - cầu…

Không để doanh nghiệp Việt tự mò mẫm tìm đường vào chuỗi cung ứng điện tử của khối FDI

Trao đổi với Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, bà Đỗ Thị Thúy Hương, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp điện tử Việt Nam (VEIA), cho rằng rào cản lớn đối với doanh nghiệp Việt Nam không chỉ là đáp ứng tiêu chuẩn của khối FDI, mà còn nằm ở mạng lưới cung ứng sẵn có của các tập đoàn này. Do đó cần có sự cởi mở hơn từ doanh nghiệp FDI và thay đổi cách tiếp cận trong hỗ trợ nhà cung ứng trong nước, qua đó thúc đẩy kết nối và phát triển chuỗi cung ứng tại Việt Nam.

Không nên xem nhà ở cho người nước ngoài là thị trường ngách

Trả lời phỏng vấn báo chí bên lề hội thảo “Nhà ở cho người nước ngoài sống và làm việc tại Thành phố Bắc Ninh” do Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy phối hợp với Ủy ban Nhân dân Thành phố Bắc Ninh tổ chức mới đây, ông Phạm Văn Thịnh, Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Thành phố Bắc Ninh, cho biết cùng với quá trình thu hút đầu tư và mở rộng sản xuất, nhu cầu nhà ở của chuyên gia, nhà quản lý và người lao động nước ngoài tại địa phương ngày càng gia tăng.

Từ những công trình kiến trúc cổ kính đến không gian Hoàng cung được tái hiện bằng công nghệ số, di sản Huế đang được kể lại bằng ngôn ngữ mới, đưa những câu chuyện lịch sử đến gần hơn với thế hệ trẻ.

VnEconomy Đột phá từ công nghệ minh giải địa chấn ba chiều

Công nghệ minh giải địa chấn ba chiều đã mang lại đột phá trong quá trình phân tích, xử lý và dựng lại hình ảnh không gian ba chiều của các lớp đất đá, cấu trúc địa chất và vỉa chứa bên dưới bề mặt Trái Đất từ dữ liệu sóng địa chấn. Việc ứng dụng công nghệ này giúp Dầu khí phát hiện ra những cấu tạo, khu vực tiềm năng mới mà bằng những công nghệ truyền thống không phát hiện được.

Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khoá XVI

Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khoá XVI

Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khoá XVI dự kiến kéo dài 28 ngày bắt đầu từ 17/10/2026. Kỳ họp với khối lượng công việc lớn, dự kiến xem xét, thông qua 43 luật, nghị quyết quy phạm pháp luật và quyết định...

Việt Nam: Khát vọng quốc gia biển mạnh

Việt Nam: Khát vọng quốc gia biển mạnh

Yêu cầu cốt lõi mà Nghị quyết 20 đặt ra là phải biến nước ta từ một quốc gia có biển thành một quốc gia biển mạnh, với kinh tế biển phát triển hiện đại, có năng lực cạnh tranh cao, đồng thời giữ vững...

VnEconomy Interactive

VnEconomy Interactive

Interactive là một sản phẩm báo chí mới của VnEconomy vừa được ra mắt bạn đọc từ đầu tháng 3/2023 đã gây ấn tượng mạnh với độc giả bởi sự mới lạ, độc đáo. Đây cũng là sản phẩm độc quyền chỉ có trên...

VnEconomy
VnEconomy