
Đầu tư của Nhà nước cho công tác nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ ở nước ta còn thấp, chưa tới ngưỡng nên khó tạo ra được sản phẩm khoa học công nghệ mang tính đột phá. Theo đánh giá của Viện Chính sách lương thực thế giới (IFPRI), Việt Nam mới chỉ đầu tư cho nghiên cứu và phát triển ngành nông nghiệp tương đương 0,2% GDP nông nghiệp. Trong khi đó ở Brazil là 1,8% và Trung Quốc là 0,5%. Nếu đầu tư đúng mức thì Việt Nam cần đạt mức 0,86% của GDP nông nghiệp, tức là hơn 4 lần so với mức đầu tư hiện nay.
Mức đầu tư cơ sở hạ tầng cho nghiên cứu cơ bản thấp, nhưng lại dàn trải cho nhiều cơ quan và không có đầu tư kinh phí duy trì vận hành, vì vậy hiệu quả sử dụng các phòng thí nghiệm còn lãng phí. Một số đơn vị đã có sáng kiến sử dụng chung các phòng thí nghiệm nhưng lại gặp phải rào cản về chi phí tài chính. Với mức đầu tư không tới tầm như vậy nên chất lượng của nhiều sản phẩm nghiên cứu của tiến bộ kỹ thuật chưa đạt yêu cầu của sản xuất, mức độ lan tỏa còn thấp. Hơn nữa yêu cầu của sản xuất ngày càng đa dạng về công nghệ và về phương thức quản trị mà năng lực của hệ thống nghiên cứu thiếu cơ chế để bắt kịp, do vậy còn khoảng trống khá lớn giữa nhu cầu và cung ứng khoa học ngành nông nghiệp.
Trong điều kiện đó một số đơn vị nghiên cứu, đơn cử như Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển hệ thống nông nghiệp của Viện Khoa học nông nghiệp Việt Nam đã tiếp cận mở rộng (kinh tế, thị trường) và năng động trong việc tiếp cận nhu cầu của địa phương, các doanh nghiệp và hợp tác xã. Đơn vị xác định là để có nhiều đề tài có tính ứng dụng cao, tạo điều kiện tham gia nghiên cứu cho tất cả các cán bộ thì cần phải tìm hiểu, bám sát nhu cầu của sản xuất và thị trường, trên cơ sở đó đa dạng các nguồn kinh phí cho nghiên cứu phát triển bao gồm các đề tài ngân sách nhà nước cấp trung ương và đặc biệt là cấp địa phương (tỉnh, huyện), hợp tác quốc tế, dịch vụ chuyển giao khoa học cộng nghệ, tư vấn phát triển nông nghiệp và phát triển nông thôn.
Hiện nay, vẫn có những viện nghiên cứu còn trông chờ đề tài được giao từ Nhà nước, từ Bộ giao xuống. Nếu chỉ trông chờ vào đề tài Nhà nước giao, dĩ nhiên sẽ không đủ đề tài cho mọi cán bộ thực hiện nghiên cứu. Cần phải thay đổi tư duy, nghiên cứu khoa học cần phải từ ba nguồn đề tài: đặt hàng từ Nhà nước, đặt hàng từ doanh nghiệp và đặt hàng từ các hợp tác xã, các tổ chức và nông dân.
Như vậy mới thể hiện được tư duy kinh tế nông nghiệp đối với cán bộ nghiên cứu là phải định hướng nghiên cứu theo yêu cầu của sản xuất, của thị trường thông qua đặt hàng của Nhà nước, của doanh nghiệp, hay của nông dân. Hơn nữa các vấn đề của sản xuất, của phát triển thường có yêu cầu liên ngành, vì vậy để tìm được giải pháp phù hợp thì cần thành lập các nhóm nghiên cứu liên ngành kết hợp khoa học và kinh tế - xã hội, giải quyết vấn đề đồng bộ theo chuỗi giá trị từ sản xuất, sơ chế, chế biến, tiêu thụ đến sản phẩm hoàn thiện cuối cùng. Đơn vị có cơ chế “bảo hành” đối với các kết quả chuyển giao bằng cách duy trì hệ thống tư vấn từ xa với các hợp tác xã, tổ hợp tác, doanh nghiệp đã nhận chuyển giao, coi họ như một đối tác phát triển nhờ vào các hệ thống mạng xã hội. Thông qua hệ thống này có thể đánh giá được tác động của công tác chuyển giao khoa học công nghệ cho sản xuất.
Để sản phẩm khoa học công nghệ tham gia được vào thị trường thì sản phẩm khoa học công nghệ đó cần đạt một số tiêu chí: Chất lượng và hàm lượng khoa học cao; Đáp ứng được yêu cầu của sản xuất, kinh doanh, có khả năng áp dụng vào sản xuất trên diện rộng; và mang lại lợi nhuận cho sản xuất, kinh doanh.
Giải pháp thị trường khoa học công nghệ cần được hình thành với đầy đủ thể chế để vận hành đảm bảo công tác tự chủ. Trong 10 năm trở lại đây, mới có khoảng vài chục giống cây trồng mới do các viện, trường chọn tạo được chuyển giao cho các doanh nghiệp. Tuy nhiên, nhìn chung việc chuyển nhượng bản quyền công nghệ còn chậm phát triển, các lĩnh vực khác như quy trình công nghệ trong sản xuất, chế biến nông lâm sản và thủy sản, bản vẽ, thiết kế máy nông nghiệp… hầu như chưa được chuyển nhượng trên thị trường khoa học công nghệ.
Về chính sách vĩ mô thì Nghị định 60/2021 của Chính phủ về việc quy định cơ chế tự chủ tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập đi vào thực hiện sẽ thúc đẩy các đơn vị nghiên cứu tự chủ hơn về tài chính theo hướng gần với doanh nghiệp khoa học công nghệ. Như vậy các đơn vị này sẽ có hai phần chính là thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu được nhà nước đặt hàng thông qua cơ chế giao nhiệm vụ và thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu chuyển giao theo hợp đồng với địa phương, doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ chức tài trợ…
Để cải thiện hiệu quả và chất lượng chuyển giao khoa học công nghệ nông nghiệp, các đơn vị nghiên cứu cần hình thành các bộ phận marketing về khoa học công nghệ, thực hiện trước hết là chức năng nắm bắt nhu cầu khoa học công nghệ của sản xuất và thị trường để định hướng nghiên cứu.
Các thủ tục của thị trường khoa học công nghệ cũng cần được cải cách, tạo điều kiện cho các bên tiếp cận thuận tiện, nhanh chóng. Một số vướng mắc hiện nay cần được tháo gỡ ngay, như các thủ tục đăng ký bản quyền được đơn giản hóa; có chính sách bảo vệ bản quyền đối với những sản phẩm khoa học công nghệ, các sáng chế, đảm bảo quyền lợi cho những nhà sáng chế, nghiên cứu. Luật Sở hữu trí tuệ cần được thực hiện nghiêm đối với các sản phẩm khoa học công nghệ là điều kiện tiên quyết để khuyến khích các nhà khoa học dựa trên cơ chế thị trường.
Cần thúc đẩy hình thành các nhóm nghiên cứu liên ngành theo chuỗi giá trị để đáp ứng được sự mong đợi của các doanh nghiệp, hợp tác xã. Các đề tài đặt hàng của Nhà nước cũng nên giao theo nhóm chuỗi giá trị. Đây chính là cơ sở để hình thành các nhóm nghiên cứu mạnh theo chuỗi, trong mỗi nhóm có các nhà khoa học đầu ngành hay các nhà khoa học trẻ có năng lực chủ trì; là cách để đào tạo được các nhà khoa học có trình độ cao.
Nhìn lại di sản và thành tựu của Thời báo Kinh tế Việt Nam (nay là Tạp chí Kinh tế Việt Nam) trong 35 năm qua, giá trị lớn nhất không chỉ đo bằng lượng thông tin phục vụ bạn đọc hàng ngày, hàng giờ, cũng không chỉ ở tên gọi và số lượng các ấn phấm báo chí đã phát hành, mà còn được thể hiện ở tư duy bứt phá của những thế hệ lãnh đạo được giao nhiệm vụ thực hiện sứ mệnh phát triển “dòng thông tin kinh tế phục vụ công cuộc kiến tạo và phát triển đất nước”.
Sinh học tổng hợp là một lĩnh vực khoa học tiên tiến kết hợp sinh học, kỹ thuật và khoa học máy tính để thiết kế và xây dựng các hệ thống sinh học mới. Các nhà khoa học chỉnh sửa hoặc tạo ra các trình tự DNA để phát triển các sinh vật có đặc điểm cụ thể, chẳng hạn như vi khuẩn sản xuất nhiên liệu sinh học hoặc cây trồng có khả năng kháng sâu bệnh tốt hơn. Cách tiếp cận này cho phép tạo ra những đổi mới trong y học, nông nghiệp và bảo tồn môi trường. Lĩnh vực này tiếp tục phát triển, mở ra các giải pháp cho các thách thức toàn cầu như biến đổi khí hậu, an ninh lương thực và phòng chống dịch bệnh.
Việc triển khai các dự án metro và TOD (phát triển đô thị theo định hướng giao thông công cộng) không chỉ giúp Hà Nội từng bước khắc phục những bất cập hiện tại mà còn mang ý nghĩa chiến lược trong định hướng phát triển bền vững Thủ đô, đặc biệt là trong bối cảnh Hà Nội đang thực hiện nhiều động thái quyết liệt để đạt được những mục tiêu đột phá được đề ra trong Quy hoạch tổng thể Thủ đô tầm nhìn 100 năm (vừa được Hội đồng Nhân dân Thành phố Hà Nội thông qua)...
Ngày 22/6/2026, Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội đã đồng loạt khởi công 5 tuyến đường sắt đô thị (metro) với tổng chiều dài khoảng 303,5 km và tổng mức đầu tư sơ bộ khoảng 1.315.256 tỷ đồng, đặt mục tiêu cơ bản hoàn thành vào năm 2030.
35 năm trước, Thời báo Kinh tế Việt Nam ra đời cùng với sự đổi mới, đặc biệt là đổi mới kinh tế của đất nước, đã đồng hành và có những đóng góp, dù còn rất nhỏ bé, cho công cuộc xây dựng kinh tế đất nước. Tròn 6 năm kể từ năm 2020, Tạp chí Kinh tế Việt Nam lại tiếp tục song hành cùng sự nghiệp phát triển kinh tế đất nước. Và với sự ra mắt đồng thời hai nền tảng công nghệ Asko CMS và Askonomy vào ngày 26/6/2026, Tạp chí Kinh tế Việt Nam – VnEconomy - Vietnam Economic Times nguyện sẽ đồng hành cùng Kỷ nguyên vươn mình của đất nước.
Nhìn lại di sản và thành tựu của Thời báo Kinh tế Việt Nam (nay là Tạp chí Kinh tế Việt Nam) trong 35 năm qua, giá trị lớn nhất không chỉ đo bằng lượng thông tin phục vụ bạn đọc hàng ngày, hàng giờ, cũng không chỉ ở tên gọi và số lượng các ấn phấm báo chí đã phát hành, mà còn được thể hiện ở tư duy bứt phá của những thế hệ lãnh đạo được giao nhiệm vụ thực hiện sứ mệnh phát triển “dòng thông tin kinh tế phục vụ công cuộc kiến tạo và phát triển đất nước”.
Hiện nhiều cấu phần trong một thiết bị bay không người lái UAV đã được doanh nghiệp Việt Nam tự chủ sản xuất. Tuy nhiên, động lực để phát triển UAV nói riêng và kinh tế tầm thấp nói chung còn đang thiếu. Mở thế chế để quản lý thiết bị bay không người lái, đưa UAV vào từng ngành kinh tế trọng điểm là điều kiện tiên quyết phát triển kinh tế tầm thấp trong thời gian tới.